NGƯỜI VIỄN ĐÔNG

Nơi chia sẻ và lưu giữ các bài viết của Nam Nguyen

XÂY DỰNG KHOA XÂY DỰNG

Năm 1956, chính phủ cho lập Trường Đại học Bách Khoa Hà Nội. Người đầu tiên đến trường (toạ lạc ở khu cư xá sinh viên Hà Nội, trước cách mạng) là anh Hoàng Xuân Tuỳ, cùng đến có một đồng chí thư ký đánh máy. Tôi là người đến sau hai người đó. Anh Tuỳ đã sắp xếp chỗ ở rồi (một phòng nhỏ ở nhà C), còn ăn thì ai đang ở đâu cứ tạm về nhà mình ăn… Công việc thì anh Tuỳ (được sự gợi ý của cấp trên) giao cho tôi phụ trách khoa Xây dựng. Anh nói: Khoa Xây dựng sẽ gồm các ngành xây dựng (dân dụng và công nghiệp), thuỷ lợi (có cả thuỷ điện), cầu đường và kiến trúc. Tuỳ yêu cầu của đất nước và số lượng, trình độ cán bộ mà khoa có thể phát triển nhanh hay chậm… Tôi cũng đồng ý là vấn đề cán bộ là cốt yếu, còn nhu cầu của đất nước – dù trong thời kì chiến tranh - cũng đã to lớn lắm rồi. Sinh viên của khoa mỗi năm tuyển thêm…

Dần dần cán bộ về khá đầy đủ cho những yêu cầu tối thiểu của những năm thứ nhất, thứ nhì của khoa: Cán bộ phần lớn là cử nhân xuất thân từ các trường Tổng Hợp hay Sư Phạm cũ và mới, phần lớn rất trẻ, hăng say trong công việc, và khá giỏi (toán, lý, hoá, vẽ kỹ thuật). Chỉ có về ngoại ngữ anh Tuỳ và tôi không biết nên dạy tiếng nước nào: Pháp, Anh, Tàu, Nga? Chúng tôi thấy học mà không thực hành ngay thì sẽ chóng quên, mà thực hành thì tài liệu chuyên môn không có (may lắm thì có ở thư viện Quốc Gia), người nói được với mình (đối tác) cũng không tìm đâu ra, trừ khi anh ra nước ngoài… Nên có lẽ chỉ cần dạy ngoại ngữ nước nào đó cho sinh viên nào sẽ được đi học ở nước ngoài, mà cái đó lúc năm 1956 thì đó còn là một viễn cảnh hết sức xa xôi!


Về các môn chuyên môn của từng ngành, cán bộ cũng lần lượt được đến khá kịp thời. Tôi được anh Tuỳ tìm thêm anh Nguyễn Sanh Dạn để giúp tôi trong mọi công việc của Khoa – làm phó chủ nhiệm khoa. Anh Dạn lớn tuổi hơn tôi, đã lập gia đình trước cách mạng (chị đã mất, anh chị có một con gái còn ở miền Nam). Anh tốt nghiệp kỹ sư công chính, rất thích hợp với công việc lãnh đạo khoa xây dựng nên rất hăng hái và tận tâm trong công việc, từ 1956 cho đến 1972 khi anh về hưu.


Ngoài anh Dạn ra, anh Tuỳ bổ sung cho tôi 3 đồng chí kỹ sư học ở Trung Quốc về là: anh Đỗ Quốc Sam (công trình thép), anh Đặng Hữu (đường), anh Nguyễn Văn Hường (xây dựng). Ba đồng chí này đều là Đảng viên, học giỏi, tác phong đứng đắn nên Đảng uỷ nhà trường chấp nhận họ làm trợ lý cho Ban Chủ nhiệm khoa, cụ thể: anh Sam, làm trợ lý về xây dựng, anh Hữu làm trợ lý vể cầu đường, anh Hường làm trợ lý về thuỷ lợi. Công việc của trợ lý là giúp Ban Chủ nhiệm trong việc quản lý sinh viên ở các tổ sinh viên thuộc ngành mình (về học tập và tư cách, kỹ thuật…), và vào những năm sau, tham gia chấm các luận án ra trường của sinh viên…


Về Đảng và Đoàn thanh niên, cũng có những tổ chức và cán bộ phù hợp với từng khoa của trường (Đảng uỷ trường có Bí thư Đảng uỷ, mấy năm đầu là đồng chí… Cát).
Đối với tôi, bộ máy trên kia cũng tạm đủ để tôi có thì giờ ngoài việc điều khiển – và dựa vào – bộ máy đó chủ yếu bằng những cuộc họp hàng tuần ngày thứ hai đầu tuần (chủ yếu có anh Dạn, ba đồng chí trợ lý), tôi còn thì giờ để dạy một phần nào đó của một vài môn của khoa như:
- Sức bền vật liệu (với anh Bùi Trọng Lựu)
- Hình học hoạ hình (với anh Thân, dạy cho tất cả các khoa của trường).
- Cơ học đất (với anh Lê Đỗ Chương)
- Thuỷ văn (với anh Lê Thạc Cán)
- Thuỷ lợi và thuỷ điện nhập môn (với các anh Nguyễn Văn Đặng, anh Nguyễn Thanh Bình).
Tôi cũng đã dịch ra – từ đầu chí cuối – sách Cơ học đất của Txư-tô-vít và có thì giờ “bỏ khoa mà đi” tham quan và học tập về ngành thuỷ điện ở Liên Xô trong 5 tháng trời năm 1957. 
Tổ 25 của Khoa đã trở thành tổ kiến trúc, tiền thân của Trường Kiến trúc sau này, nhờ sự nhiệt tình của anh Ngô Huy Quỳnh, kiến trúc sư; chị Nguyễn Thị Kim, nhà tạc tượng, bác Nguyễn Cao Luyện, nhà kiến trúc sư nổi tiếng trước Cách mạng…
Tôi phụ trách Khoa Xây dựng cho đến năm 1962, tức là 6 năm… Cũng vào năm 1962 tôi đã đồng ý cho ba anh Sam, Hữu, Hường, cùng với anh Phạm Sĩ Liêm (về bê tông cốt thép) đi Liên Xô tiếp tục học làm “tiến sĩ” về các ngành của mình, và họ đã trở về nước, có đủ văn bằng mới để có thể đáp ứng được các yêu cầu của Khoa Xây dựng đã khá trưởng thành để trở thành trường Đại học Xây dựng vài năm sau đó.


Ảnh:
-các thầy Lê Tâm (trưởng khoa XD), Nguyễn Sanh Diện (phó trưởng khoa), Nguyễn Đình Cống (sau hiệu trưởng trường ĐH Thủy Lợi).
-lễ kỷ niệm 50 năm ra trường của Khóa 1-khoa xây dựng-ĐHBK Hà Nội.
-trường BK năm 1956.

Nam Nguyen's photo.
Nam Nguyen's photo.
Nam Nguyen's photo.
Ý kiến không được cho phép