NGƯỜI VIỄN ĐÔNG

Nơi chia sẻ và lưu giữ các bài viết của Nam Nguyen

ĐIỆN BIÊN PHỦ

ĐIỆN BIÊN PHỦ

Ngày 7 tháng 5 năm 1954, lúc tôi đang năm nghỉ trong một nhà dân ở Chiêm Hoá, tỉnh Tuyên Quang, gần trường trung cấp giao thông mà ở đấy tôi đã tạm thời giảng dạy, sau khi ra khỏi bệnh viện quân y ở Chiêm Hoá, thì tôi được nghe tin trên đài tiếng nói Việt Nam rồi trên loa của xã loan báo: quân ta đã đại thắng ở Điện Biên Phủ, quân Pháp đã đầu hàng vô điều kiện, tướng Đờ Cát đã bị bắt sống và đã đầu hàng… 
Thật là một tin làm nức lòng mọi người dân Việt Nam lúc đó, mọi quân và dân đều mong đợi tin này từ mấy tháng nay. Chung quanh tôi mọi người bàn tán xôn xao, rằng trận này đã kết thúc trường kì kháng chiến; bây giờ đã hết cuộc sống gian khổ mà tất cả toàn dân và cán bộ đã chịu đựng trong các chiến khu, và kết thúc sự hy sinh của các chiến sĩ trên các chiến trường… mọi người đều tin rằng: chắc Pháp sẽ rút khỏi miền Bắc, Hà Nội sẽ được giải phóng nay mai, nhất là các anh em cán bộ đến gặp tôi đều nói: chúng ta sẽ phải chuẩn bị về Thành, người trẻ thì nói: sẽ chuẩn bị kiếm vợ, người già thì nói: mong được gặp con cháu…

Sau ngày đó, tôi được đưa về một nơi ở mới mà bộ giao thông công chính đã chuẩn bị để làm trụ sở tạm thời trước khi về thủ đô, tôi đã được gặp lại từ bộ trưởng cho đến một số anh em trong văn phòng và một số cơ quan khác của bộ. Đồng chí Bộ trưởng cho biết rằng: tôi cùng vài đồng chí khác sẽ họp thành một nhóm dưới sự điều khiển của anh Nguyễn Văn Trân, Ủy viên trung ương Đảng, hiện là thứ trưởng bộ giao thông công chính. Nhóm này sẽ bàn về việc thành lập lại Tổng cục đường sắt miền Bắc, đã thôi hoạt động hơn 10 năm nay. Sau đó, hàng ngày nhóm này đã họp để thảo luận về mọi vấn đề, từ cái tên của cơ quan mới cho đến việc phục hồi lại các tuyến đường sắt. Trong mấy ngày họp đầu tiên, qua cửa sổ của phòng họp tôi mục kích thường xuyên những đoàn tù binh Pháp được đưa đến những địa điểm đã dự định dành cho chúng. Chúng đi lũ lượt hàng 2, hàng 3, hết ngày này qua ngày nọ, dưới sự chỉ huy của những người lính Việt Nam mang súng, chúng không có vẻ gì là quá buồn, hay quá sợ. Có người nói: chúng phải vui là khác vì được sống sót, so với các bạn của chúng đã bị chết trong những trận đánh cuối cùng ở Điện Biên Phủ, những trận bị pháo ta tiêu diệt, những trận đánh “sáp lá cà” dữ dội. Cũng có những tên phải dẫn theo những đường riêng, đến những nơi ta còn khai thác thêm tin tức, nhất là những tên chỉ huy hoặc những tên Pháp chính cống chứ không phải là người da đen ở Châu Phi hoặc người Angiêri, Ma rốc. Tôi còn nhớ anh Lê Văn Thiêm được bố trí hỏi cung tại một địa điểm gần đấy, anh nói rằng: anh đã khai thác một tên Đức nói tiếng Pháp giỏi có vẻ rất ngạo mạn khi bị một người Việt Nam nhỏ bé như anh ta hỏi cung. Và có lúc hỏi 2, 3 câu nó không thèm trả lời, anh Thiêm - thường là một người hiền lành- đã phát cáu lên và đánh cho nó một bạt tai, cái hình phạt tối đa anh được dùng (cho phép đánh bạt tai), thằng Đức sợ quá và chắp tay van lạy và trả lời các câu hỏi một cách trôi chảy sau đó.

Về các cuộc họp của nhóm, anh Nguyễn Văn Trân thì ngoài anh ta và tôi ra, còn có anh Dương trước là Tổng giám đốc đường sắt từ Huế ra đến Lào Cai, anh Nguyễn Như Quỷ hiệu trưởng trường trung cấp giao thông ở Chiêm Hoá, anh Lê Khắc trước là giám đốc đoạn đường sắt từ Hà Nội lên Lào Cai. Chúng tôi sôi nổi bàn về cái tên của ngành và cơ quan phụ trách ngành. Chúng tôi phải chọn: gọi là ngành đường sắt hay là ngành tàu hoả, hay ngành xe lửa. Vì lúc đó cũng cố khuynh hướng mà chính Bác Hồ đã đưa ra là: bớt dùng tiếng Trung Quốc, chính vì vậy mà phải thảo luận tại sao không dùng xe lửa mà dùng tầu hoả? Rồi tại sao chú trọng đến đường mà gọi là đường săt mà không chú trọng đến đến đầu máy, tầu hoả, hay xe lửa. Cuối cùng chữ đường sắt được chọn, nhưng cũng có người luyến tiếc chữ xe lửa hay tầu hoả vì cho rằng đầu máy là cái cách mạng hơn là con đường. Và cuộc họp đã quyết định lấy sự phục hồi đoạn đường sắt từ Mục Nam Quan đến Hà Nội làm công việc ưu tiên số một của ngành, trong khi đó phải chuẩn bị cho ưu tiên số 2 đoạn đường từ Hà Nội đến Vinh. Vì chưa có hội nghị Giơ – ne – vơ, nên chúng tôi chỉ đoán đến Vinh là có thể chắc chắn nằm dưới quyền Chính phủ ta, còn chưa biết sau Vinh cho đến tận Sài Gòn những hội nghị sắp tới sẽ quyết định lãnh thổ nào sẽ về tay ai, thì mới bàn đến ngành đường sắt trong lãnh thổ sắp tới. Nhưng chúng tôi, tất cả đều tin rằng không sớm thì chày đường sắt Việt Nam sẽ phát triển mạnh mẽ trong một nước Việt Nam thống nhất và hoà bình. Bây giờ mới biết sự dè dặt của chúng tôi là có lý. Nhưng tôi biết cũng có nhiều ngành đang họp như ngành đường sắt chúng tôi, đã quá lạc quan và chủ quan tin rằng sau Điện Biên Phủ, Pháp sẽ rút hết quân khỏi Việt Nam và Đông Dương, và Chính Phủ cụ Hồ sẽ nay mai không những về Hà Nội mà còn về Huế và Sài Gòn. Nhiều cán bộ, chưa nói đến nhiều người dân, đã không thấy bóng thằng Mỹ lấp ló sau Điện Biên Phủ để rồi ta phải chiến đấu thêm hơn 20 năm nữa mới thực sự dành được độc lập và thống nhất.

Ảnh:
-cờ bay trên hầm Đờ Cát
-tướng Đờ Cát ra hàng

Nam Nguyen's photo.
Nam Nguyen's photo.

ĐIỆN BIÊN PHỦ

Ngày 7 tháng 5 năm 1954, lúc tôi đang năm nghỉ trong một nhà dân ở Chiêm Hoá, tỉnh Tuyên Quang, gần trường trung cấp giao thông mà ở đấy tôi đã tạm thời giảng dạy, sau khi ra khỏi bệnh viện quân y ở Chiêm Hoá, thì tôi được nghe tin trên đài tiếng nói Việt Nam rồi trên loa của xã loan báo: quân ta đã đại thắng ở Điện Biên Phủ, quân Pháp đã đầu hàng vô điều kiện, tướng Đờ Cát đã bị bắt sống và đã đầu hàng… 
Thật là một tin làm nức lòng mọi người dân Việt Nam lúc đó, mọi quân và dân đều mong đợi tin này từ mấy tháng nay. Chung quanh tôi mọi người bàn tán xôn xao, rằng trận này đã kết thúc trường kì kháng chiến; bây giờ đã hết cuộc sống gian khổ mà tất cả toàn dân và cán bộ đã chịu đựng trong các chiến khu, và kết thúc sự hy sinh của các chiến sĩ trên các chiến trường… mọi người đều tin rằng: chắc Pháp sẽ rút khỏi miền Bắc, Hà Nội sẽ được giải phóng nay mai, nhất là các anh em cán bộ đến gặp tôi đều nói: chúng ta sẽ phải chuẩn bị về Thành, người trẻ thì nói: sẽ chuẩn bị kiếm vợ, người già thì nói: mong được gặp con cháu…

Sau ngày đó, tôi được đưa về một nơi ở mới mà bộ giao thông công chính đã chuẩn bị để làm trụ sở tạm thời trước khi về thủ đô, tôi đã được gặp lại từ bộ trưởng cho đến một số anh em trong văn phòng và một số cơ quan khác của bộ. Đồng chí Bộ trưởng cho biết rằng: tôi cùng vài đồng chí khác sẽ họp thành một nhóm dưới sự điều khiển của anh Nguyễn Văn Trân, Ủy viên trung ương Đảng, hiện là thứ trưởng bộ giao thông công chính. Nhóm này sẽ bàn về việc thành lập lại Tổng cục đường sắt miền Bắc, đã thôi hoạt động hơn 10 năm nay. Sau đó, hàng ngày nhóm này đã họp để thảo luận về mọi vấn đề, từ cái tên của cơ quan mới cho đến việc phục hồi lại các tuyến đường sắt. Trong mấy ngày họp đầu tiên, qua cửa sổ của phòng họp tôi mục kích thường xuyên những đoàn tù binh Pháp được đưa đến những địa điểm đã dự định dành cho chúng. Chúng đi lũ lượt hàng 2, hàng 3, hết ngày này qua ngày nọ, dưới sự chỉ huy của những người lính Việt Nam mang súng, chúng không có vẻ gì là quá buồn, hay quá sợ. Có người nói: chúng phải vui là khác vì được sống sót, so với các bạn của chúng đã bị chết trong những trận đánh cuối cùng ở Điện Biên Phủ, những trận bị pháo ta tiêu diệt, những trận đánh “sáp lá cà” dữ dội. Cũng có những tên phải dẫn theo những đường riêng, đến những nơi ta còn khai thác thêm tin tức, nhất là những tên chỉ huy hoặc những tên Pháp chính cống chứ không phải là người da đen ở Châu Phi hoặc người Angiêri, Ma rốc. Tôi còn nhớ anh Lê Văn Thiêm được bố trí hỏi cung tại một địa điểm gần đấy, anh nói rằng: anh đã khai thác một tên Đức nói tiếng Pháp giỏi có vẻ rất ngạo mạn khi bị một người Việt Nam nhỏ bé như anh ta hỏi cung. Và có lúc hỏi 2, 3 câu nó không thèm trả lời, anh Thiêm - thường là một người hiền lành- đã phát cáu lên và đánh cho nó một bạt tai, cái hình phạt tối đa anh được dùng (cho phép đánh bạt tai), thằng Đức sợ quá và chắp tay van lạy và trả lời các câu hỏi một cách trôi chảy sau đó.

Về các cuộc họp của nhóm, anh Nguyễn Văn Trân thì ngoài anh ta và tôi ra, còn có anh Dương trước là Tổng giám đốc đường sắt từ Huế ra đến Lào Cai, anh Nguyễn Như Quỷ hiệu trưởng trường trung cấp giao thông ở Chiêm Hoá, anh Lê Khắc trước là giám đốc đoạn đường sắt từ Hà Nội lên Lào Cai. Chúng tôi sôi nổi bàn về cái tên của ngành và cơ quan phụ trách ngành. Chúng tôi phải chọn: gọi là ngành đường sắt hay là ngành tàu hoả, hay ngành xe lửa. Vì lúc đó cũng cố khuynh hướng mà chính Bác Hồ đã đưa ra là: bớt dùng tiếng Trung Quốc, chính vì vậy mà phải thảo luận tại sao không dùng xe lửa mà dùng tầu hoả? Rồi tại sao chú trọng đến đường mà gọi là đường săt mà không chú trọng đến đến đầu máy, tầu hoả, hay xe lửa. Cuối cùng chữ đường sắt được chọn, nhưng cũng có người luyến tiếc chữ xe lửa hay tầu hoả vì cho rằng đầu máy là cái cách mạng hơn là con đường. Và cuộc họp đã quyết định lấy sự phục hồi đoạn đường sắt từ Mục Nam Quan đến Hà Nội làm công việc ưu tiên số một của ngành, trong khi đó phải chuẩn bị cho ưu tiên số 2 đoạn đường từ Hà Nội đến Vinh. Vì chưa có hội nghị Giơ – ne – vơ, nên chúng tôi chỉ đoán đến Vinh là có thể chắc chắn nằm dưới quyền Chính phủ ta, còn chưa biết sau Vinh cho đến tận Sài Gòn những hội nghị sắp tới sẽ quyết định lãnh thổ nào sẽ về tay ai, thì mới bàn đến ngành đường sắt trong lãnh thổ sắp tới. Nhưng chúng tôi, tất cả đều tin rằng không sớm thì chày đường sắt Việt Nam sẽ phát triển mạnh mẽ trong một nước Việt Nam thống nhất và hoà bình. Bây giờ mới biết sự dè dặt của chúng tôi là có lý. Nhưng tôi biết cũng có nhiều ngành đang họp như ngành đường sắt chúng tôi, đã quá lạc quan và chủ quan tin rằng sau Điện Biên Phủ, Pháp sẽ rút hết quân khỏi Việt Nam và Đông Dương, và Chính Phủ cụ Hồ sẽ nay mai không những về Hà Nội mà còn về Huế và Sài Gòn. Nhiều cán bộ, chưa nói đến nhiều người dân, đã không thấy bóng thằng Mỹ lấp ló sau Điện Biên Phủ để rồi ta phải chiến đấu thêm hơn 20 năm nữa mới thực sự dành được độc lập và thống nhất.

Ảnh:
-cờ bay trên hầm Đờ Cát
-tướng Đờ Cát ra hàng

Nam Nguyen's photo.
Nam Nguyen's photo.
Ý kiến không được cho phép