NGƯỜI VIỄN ĐÔNG

Nơi chia sẻ và lưu giữ các bài viết của Nam Nguyen

HỌ XỨNG ĐÁNG LÀ THẦN TƯỢNG CỦA CHA ÔNG CHÚNG TA

'HỌ XỨNG ĐÁNG LÀ THẦN TƯỢNG CỦA CHA ÔNG CHÚNG TA

Hồi đầu thế kỷ 20 họ đã là những ngôi sao sáng nhất trên văn đàn nước Pháp và châu Âu, và bởi vì văn học thời đó gắn liền với triết học, nên họ đồng thời cũng là những triết gia xuất chúng. Nói không ngoa, họ đã là thần tượng tri thức của hàng trăm triệu người, trong đó có cha ông chúng ta, những người được ảnh hưởng trực tiếp của nền văn hóa Pháp. Có thể nói những vị sáng lập ra nước Việt Nam dân chủ cộng hòa (cũng như ở miền Nam sau này) đã lớn lên dưới tầm ảnh hưởng rất lớn của các học giả này! Qua vài stt vừa rồi tôi đã nhắc đến họ, những Jean Jaurès, Léon Blum, Paul Valéry, Henri Bergson- có thể kể thêm những cái tên khác cũng kiệt xuất không kém: Louis Aragon (với tình yêu tuyệt diệu của mình-Elsa Triolet), André Gide, Simone de Beauvoir (bồ của Sartre-nhưng còn giỏi và nổi tiếng hơn!). Cuộc sống của từng thiên tài này đều có vinh, có nhục, đặc trưng cho thời đại họ đã sống, nhưng họ đã sống xứng đáng với danh phận là những trí thức hàng đầu! 

Paul Valery đã làm bài thơ nổi tiếng của mình “Nghĩa địa bên bờ biển” khá sớm, nhưng sau đó vì thua thiệt trong một cuộc tình, ông đã 23 năm không viết một bài thơ nào(!). Mãi sau này người bạn lớn của ông-André Gide (tác giả được giới trẻ vô cùng ngưỡng mộ, ví dụ như Hải Triều, Tố Hữu ở Quốc học Huế đã mê mẩn và tuyên truyền cuốn “Nếu hạt nảy mầm” và “Những thức ăn của cuộc sống trên trái đất” của ông)-đã khích bác rằng sao Valéry lâu lắm chả làm thơ, có còn biết làm nữa không vậy? Và thế là Valéry đã viết tuyệt phẩm thứ hai “Nữ tử thần trẻ” (dài khoảng 14 trang A4!) với lời đề tặng Gide...

Henri Bergson giống Valéry ở chỗ cũng theo ngành toán ( Lycée Condorcet) và thậm chí giành giải thưởng ở bộ môn này. Thần đồng này còn quan tâm đến thuyết tiến hóa của Darwin ngay từ 14 tuổi, khi đó ông đã nghĩ thuyết này sai, mà phải có một vị chúa Trời điều khiển quá trình tiến hóa, thậm chí ông muốn cải đạo sang Thiên chúa giáo-đó là những bước đi đầu tiên trong thuyết “tiến hóa sáng tạo” của mình! Bỏ toán, sau đó ông chuyển ngạch, trở thành Chủ tịch Hội triết học và Chủ tịch Hội khoa học tâm linh của Pháp, nổi tiếng là cha đẻ thuyết “Trực giác” và Nobel văn học 1927. Là người Do Thái theo cả họ bố lẫn mẹ, khi Pháp bị phát xít Đức chia cắt và đòi hỏi chính phủ của Pétain giao nộp danh sách những người Do Thái để chuẩn bị thanh trừng, thì chính phủ Pháp tự đưa ra chế độ-những người Do Thái có công với đất nước sẽ không phải đưa tên vào danh sách “tử thần” này, và tất nhiên Bergson là một trong những người đứng đầu số “công thần” đó! Hồi đó người Do Thái ra đường bắt buộc phải đeo một ngôi sao màu vàng ở ngực để đánh dấu-nếu không sẽ bị bắt và trừng trị! (Như trong stt trước, tôi viết về tin đồn Valéry đã viết đơn tố cáo Bergson là Do Thái-tin đồn này đeo đẳng nhà thơ “bí hiểm” suốt đời và cho đến cả bây giờ, mặc dù chả có bằng chứng nào về việc đó, người trong cuộc cũng không ai nói gì...).  Tuy vậy Henri Bergson (cũng như đa số những người Do Thái nổi tiếng thời bấy giờ) đã công khai thừa nhận gốc gác Do Thái của mình, và ông đã đột tử mùa đông năm 1941, trong khi xếp hàng mấy tiếng đồng hồ chờ đến lượt đăng ký tên mình vào danh sách Do Thái! Đám tang của vĩ nhân nước Pháp này chỉ có ba mươi người (ngoài bạn bè thân hữu, ít ai dám lộ diện là thân cận với ông!)-kết cục thầm lặng của cuộc đời tác giả công trình khoa học công phu nhất nghiên cứu về “Nụ cười” của loài người...

Hãy làm quen với vài câu nói nổi tiếng của Bergson:

“Chúng ta biết về một con người không qua những gì anh ta biết, mà qua việc anh ta vui mừng vì lẽ gì”.
“Hãy nghĩ như con người của hành động, hãy hành động như con người của suy tư!”
“Tiến hóa là sự sáng tạo liên tục không ngừng nghỉ!” 
“Cái chết là liều thuốc bí mật dành chữa bệnh háo danh”.
“Người ta biết về nghĩa vụ của mình chỉ khi là con người tự do”. 

P.S. Qua những câu chuyện rời rạc về các nhân vật ngày nay không mấy ai quan tâm này, tôi chỉ muốn nói một chút về một thời cực thịnh của văn hóa Pháp (mà đáng tiếc chúng ta hầu như ít còn được hưởng). Tôi cũng thú nhận luôn là mình cũng chẳng hề biết gì về họ, cho đến vài ngày trước, tôi được “khai sáng” bởi một nhân chứng sống của lịch sử, người Việt duy nhất còn lại từ buổi bác Hồ và đoàn Việt Nam đãi tiệc trà Maurice Thorez và cả Ban chấp hành trung ương đảng cộng sản Pháp (Cachin, Duclos...) có mời thêm vợ chồng Aragon, vợ chồng bác học Frédéric Joliot-Curie...năm 1946 tại Paris. Và một số thông tin trên đều được lấy ra từ cuốn sách mà ông đã cho tôi mượn: “Our times” (nặng khoảng 5kg, sách khổ to chữ nhỏ hehe, tôi chưa dám đọc...).
Tôi có hỏi ông: thế người Việt có ai xứng đáng đứng trong danh sách trí thức kể trên không? Thì câu trả lời là: chỉ có Trần Đức Thảo! Và đó lại là câu chuyện khác...'

Hồi đầu thế kỷ 20 họ đã là những ngôi sao sáng nhất trên văn đàn nước Pháp và châu Âu, và bởi vì văn học thời đó gắn liền với triết học, nên họ đồng thời cũng là những triết gia xuất chúng. Nói không ngoa, họ đã là thần tượng tri thức của hàng trăm triệu người, trong đó có cha ông chúng ta, những người được ảnh hưởng trực tiếp của nền văn hóa Pháp. Có thể nói những vị sáng lập ra nước Việt Nam dân chủ cộng hòa (cũng như ở miền Nam sau này) đã lớn lên dưới tầm ảnh hưởng rất lớn của các học giả này! Qua vài stt vừa rồi tôi đã nhắc đến họ, những Jean Jaurès, Léon Blum, Paul Valéry, Henri Bergson- có thể kể thêm những cái tên khác cũng kiệt xuất không kém: Louis Aragon (với tình yêu tuyệt diệu của mình-Elsa Triolet), André Gide, Simone de Beauvoir (bồ của Sartre-nhưng còn giỏi và nổi tiếng hơn!). Cuộc sống của từng thiên tài này đều có vinh, có nhục, đặc trưng cho thời đại họ đã sống, nhưng họ đã sống xứng đáng với danh phận là những trí thức hàng đầu!


Paul Valery đã làm bài thơ nổi tiếng của mình “Nghĩa địa bên bờ biển” khá sớm, nhưng sau đó vì thua thiệt trong một cuộc tình, ông đã 23 năm không viết một bài thơ nào(!). Mãi sau này người bạn lớn của ông-André Gide (tác giả được giới trẻ vô cùng ngưỡng mộ, ví dụ như Hải Triều, Tố Hữu ở Quốc học Huế đã mê mẩn và tuyên truyền cuốn “Nếu hạt nảy mầm” và “Những thức ăn của cuộc sống trên trái đất” của ông)-đã khích bác rằng sao Valéry lâu lắm chả làm thơ, có còn biết làm nữa không vậy? Và thế là Valéry đã viết tuyệt phẩm thứ hai “Nữ tử thần trẻ” (dài khoảng 14 trang A4!) với lời đề tặng Gide...


Henri Bergson giống Valéry ở chỗ cũng theo ngành toán ( Lycée Condorcet) và thậm chí giành giải thưởng ở bộ môn này. Thần đồng này còn quan tâm đến thuyết tiến hóa của Darwin ngay từ 14 tuổi, khi đó ông đã nghĩ thuyết này sai, mà phải có một vị chúa Trời điều khiển quá trình tiến hóa, thậm chí ông muốn cải đạo sang Thiên chúa giáo-đó là những bước đi đầu tiên trong thuyết “tiến hóa sáng tạo” của mình! Bỏ toán, sau đó ông chuyển ngạch, trở thành Chủ tịch Hội triết học và Chủ tịch Hội khoa học tâm linh của Pháp, nổi tiếng là cha đẻ thuyết “Trực giác” và Nobel văn học 1927. Là người Do Thái theo cả họ bố lẫn mẹ, khi Pháp bị phát xít Đức chia cắt và đòi hỏi chính phủ của Pétain giao nộp danh sách những người Do Thái để chuẩn bị thanh trừng, thì chính phủ Pháp tự đưa ra chế độ-những người Do Thái có công với đất nước sẽ không phải đưa tên vào danh sách “tử thần” này, và tất nhiên Bergson là một trong những người đứng đầu số “công thần” đó! Hồi đó người Do Thái ra đường bắt buộc phải đeo một ngôi sao màu vàng ở ngực để đánh dấu-nếu không sẽ bị bắt và trừng trị! (Như trong stt trước, tôi viết về tin đồn Valéry đã viết đơn tố cáo Bergson là Do Thái-tin đồn này đeo đẳng nhà thơ “bí hiểm” suốt đời và cho đến cả bây giờ, mặc dù chả có bằng chứng nào về việc đó, người trong cuộc cũng không ai nói gì...). Tuy vậy Henri Bergson (cũng như đa số những người Do Thái nổi tiếng thời bấy giờ) đã công khai thừa nhận gốc gác Do Thái của mình, và ông đã đột tử mùa đông năm 1941, trong khi xếp hàng mấy tiếng đồng hồ chờ đến lượt đăng ký tên mình vào danh sách Do Thái! Đám tang của vĩ nhân nước Pháp này chỉ có ba mươi người (ngoài bạn bè thân hữu, ít ai dám lộ diện là thân cận với ông!)-kết cục thầm lặng của cuộc đời tác giả công trình khoa học công phu nhất nghiên cứu về “Nụ cười” của loài người...


Hãy làm quen với vài câu nói nổi tiếng của Bergson:

“Chúng ta biết về một con người không qua những gì anh ta biết, mà qua việc anh ta vui mừng vì lẽ gì”.
“Hãy nghĩ như con người của hành động, hãy hành động như con người của suy tư!”
“Tiến hóa là sự sáng tạo liên tục không ngừng nghỉ!” 
“Cái chết là liều thuốc bí mật dành chữa bệnh háo danh”.
“Người ta biết về nghĩa vụ của mình chỉ khi là con người tự do”.


P.S. Qua những câu chuyện rời rạc về các nhân vật ngày nay không mấy ai quan tâm này, tôi chỉ muốn nói một chút về một thời cực thịnh của văn hóa Pháp (mà đáng tiếc chúng ta hầu như ít còn được hưởng). Tôi cũng thú nhận luôn là mình cũng chẳng hề biết gì về họ, cho đến vài ngày trước, tôi được “khai sáng” bởi một nhân chứng sống của lịch sử, người Việt duy nhất còn lại từ buổi bác Hồ và đoàn Việt Nam đãi tiệc trà Maurice Thorez và cả Ban chấp hành trung ương đảng cộng sản Pháp (Cachin, Duclos...) có mời thêm vợ chồng Aragon, vợ chồng bác học Frédéric Joliot-Curie...năm 1946 tại Paris. Và một số thông tin trên đều được lấy ra từ cuốn sách mà ông đã cho tôi mượn: “Our times” (nặng khoảng 5kg, sách khổ to chữ nhỏ hehe, tôi chưa dám đọc...).

Tôi có hỏi ông: thế người Việt có ai xứng đáng đứng trong danh sách trí thức kể trên không? Thì câu trả lời là: chỉ có Trần Đức Thảo! Và đó lại là câu chuyện khác...

Ý kiến không được cho phép