NGƯỜI VIỄN ĐÔNG

Nơi chia sẻ và lưu giữ các bài viết của Nam Nguyen

CÁC TRƯỜNG ĐẠI HỌC Ở PHÁP 1935-1945


(Một số ghi chép vụn vặt, không có tính thống kê hay so sánh)


Lớp trí thức đi học trước như Nguyễn Văn Huyên, Nguyễn Mạnh Tường, Hồ Đắc Di, Nguyễn Xiển, Trần Văn Giàu, Ngụy Như Kontum, Nguyễn Thúc Hào...lúc này đã về nước. Ông Huyên và em là Nguyễn Văn Hưởng đều sang Pháp, ông Huyên học cử nhân và tiến sỹ Sorbonne; cụ Di nhà có “điều kiện” đã học từ trung học rồi lên học trường Y ở Paris, có cả 4 anh em đều học Pháp là Hồ Đắc Điềm, Hồ Đắc Liên, Hồ Đắc Ân mỗi người một ngành. Thời 30-40 bắt đầu có nhiều người An Nam học ở Pháp hơn trước, họ mạnh dạn đổ bộ vào Paris, nơi mà đa số các trường khó nằm ở đấy. “Khó” ở đây là nói đến mức độ cạnh tranh đầu vào phải thi như thế nào (còn rất nhiều trường cứ nộp tiền học phí là được học thôi), nên cứ nói tốt nghiệp trường nào khoa nào là có thể biết khá nhiều về người đi học. Thử xem qua độ “khó” theo thứ tự “dễ” dần:


-École nationale des Chartres-trường Lưu trữ : trường khó vào học nhất ở Pháp, chỉ có Ngô Đình Nhu và sau này còn một người Việt nữa được theo học thôi (thời gian sau này thì không có thông tin). Dân Pháp cũng rất ít người học vì quá “khó”. Ví dụ bà Irene (vợ Pháp của ông Võ Quý Huân) tuy rằng phụ nữ nhưng cũng là một trong số hiếm hoi học trường này (bà biết 7 ngoại ngữ!)...Khi vào trường đã phải biết 4 thứ ngôn ngữ để thi tiếng Do Thái, Hy Lạp, Latin, Pháp cổ (thời Gaulois)-để khi ra trường đọc được, rồi làm việc tại các thư viện giữ gìn văn bản cổ. Ông Nhu với nền tảng học vấn ở trường lưu trữ này sau này trở thành “kiến trúc sư của chế độ miền Nam” và dựa vào thuyết Nhân Vị sáng lập đảng Cần lao tại miền Nam chứ không phải Ngô Đình Diệm cũng là dễ hiểu.


-Normale: Đại học Sư phạm Paris. Có Lê Văn Thiêm (toán), Trần Đức Thảo (triết), Phạm Duy Khiêm (anh ruột nhạc sỹ Phạm Duy-khoa ngữ văn)...học. Thời cuối thế kỷ thì có Ngô Bảo Châu. Còn có Normale Superieure (Saint Cloud): trường Cao đẳng Sư phạm chỉ dành cho con gái (không khó bằng trường con trai, nhưng cũng được coi là rất khó rồi!)


-École de Polytechnique –Bách khoa Paris: rất ít tuyển (ít hơn cả ngày nay, vì đang thời chiến tranh nữa). Hoàng Xuân Hãn, Phạm Hữu Lân. (Từ giữa những năm 90 nhờ chính sách tuyển mộ của Pháp nên hàng năm đều có có khá nhiều sinh viên Việt Nam xuất sắc được sang học ở trường này, ...).


-École de Ponts et Chaussées : Cầu đường -Hoàng Xuân Hãn, Xuphanuvong, Trần Đại Nghĩa (Phạm Quang Lễ), Trần Hữu Phương, Trần Lê Quang, Nguyễn Hy Hiền (Lê Tâm), Nguyễn Thành Long.


-École des Mines: đại học Mỏ: Đặng Phúc Thông, Võ Đình Quỳnh.


-École des Poudres –trường Thuốc nổ và Thuốc phóng: thi vào khó, chỉ có Tây được thi-lấy đủ cho quốc phòng thôi! VN không được thi, cũng như Enarque-Trường đại học Hành chính đào tạo cán bộ cho chính quyền Pháp.


-École de Agronomique: trường Nông nghiệp. Cũng vào loại khó, có bà Hoàng Thị Thế (con gái Đề Thám) tốt nghiệp loại xuất sắc, được lưu tên trên bảng vàng danh dự của trường.


-Tổng hợp Sorbonne: rất nhiều Việt Nam học. Ai đỗ tú tài thì cứ nộp lệ phí (khá rẻ), vào khoa nào học cũng được. Nhiều người Việt Nam thời đó học thêm nhiều khoa ở trường này, trái với suy nghĩ thông thường của chúng ta là học Sorbonne khó khăn lắm. Tuy vậy cũng vì giảng dạy chất lượng cao, “hay” nên nhiều người ghi tên học thêm ở đây là để học theo những thày giáo giỏi từng môn cụ thể, để trả những môn thi bắt buộc cho bằng cử nhân toán, cử nhân lý, cử nhân văn chương...rồi sau đó nếu thầy nhận thì mới làm tiếp tiến sỹ. Thi Agrege thì rất khó (vì số lượng có hạn từng năm), nhưng đỗ rồi chắc chắn có việc làm! Nguyễn Văn Huyên học rồi làm tiến sỹ ở đây về văn chương, Ngụy Như Kôn Tum là Thạc sỹ Lý-Hóa ở đây (được làm việc trong nhóm của thày Joliot-Curie nổi tiếng về vật lý hạt nhân). Phạm Huy Thông là một ví dụ thi được Agrege.


-École Centrale: trường đại học Cơ khí, hay gọi là “trường Piston”-muốn thi vào cũng phải học 2-3 năm toán cao cấp, nhưng dễ hơn vào các trường trên một chút vì thi toán dễ hơn và số lượng tuyển đầu vào đông hơn nhiều (thời đó Pháp cũng như thuộc địa cũng bị bệnh “trọng toán” nên hơi coi nhẹ các môn thi khác, và trường nào thi đầu vào toán cao cấp nặng thì đương nhiên coi là trường “top”). Ông Tạ Quang Bửu học ở đây (nhưng ông còn đăng ký học thêm mấy trường khác nữa, kể cả sang Anh một thời gian).


-Trường nhạc và Múa-Conservatoire de Music et de Danse, tất nhiên tuyển chọn theo năng khiếu. Ví dụ bà Vũ Thị Hiển học piano tại đây.


-Trường Mỹ thuật-École de Beaux Arts: vẽ, nặn tượng...có người Việt học.


Có nhiều trường nổi tiếng nhưng chỉ thuộc hệ cao đẳng: Vật lý-Hóa học của Paris (có dăm người đoạt giải Nobel đang dạy như Becquerel) cũng có nhiều người Việt học.


Trường Thủy lợi ở Grenoble không ở Paris nhưng khá nổi tiếng: Bùi Trọng Lựu học ở đây.


Thời đó người Việt không nhiều, Paris cũng còn “bé” nên thường biết nhau hoặc nghe tiếng về nhau hết. Ông Nguyễn Khắc Viện trước là bác sỹ ở Hà Nội, ở nhà đã nổi tiếng học giỏi, qua Pháp học tại trường Y Paris rồi thi làm bác sỹ Intern (giống Hoàng Xuân Mẫn)-cấp độ rất giỏi và khó!


Hồi đó có hai người họ hàng khá nổi tiếng là Bửu Hội và Bửu Lộc, cùng là người có họ “Nguyễn Phúc” của hoàng tộc Huế nhưng đi học từ Hà Nội. Bửu Lộc học bình thường nhưng nhanh nhảu, giao thiệp rộng, sau này về miền Nam làm thủ tướng 6 tháng rồi trao lại chức cho Ngô Đình Diệm. Bửu Hội ngược lại, chuyên môn về hóa học hữu cơ rất xuất sắc, có thể nói tuy còn trẻ nhưng ông là nh�� bác học nổi tiếng người Việt Nam duy nhất tại Pháp lúc này! Ông có hàng chục công trình, bằng sáng chế về tổng hợp dược phẩm để chống ung thư và được rất nhiều giải thưởng quốc tế của Pháp, Mỹ, Hà Lan...Sau này ông có dính dáng nhiều đến chính trị, làm đại sứ của chế độ miền Nam một thời gian và có lúc đại diện cho chế độ Diệm tại Liên hiệp quốc một thời gian ngắn (còn phía miền Bắc là Hà Văn Lâu-cũng người Huế-đại diện rất lâu năm). Có thể vì thế nên thông tin về ông rất ít ỏi...


Ông Hoàng Xuân Hãn học Bách Khoa rồi Cầu đường, sau đó sang lại làm cử nhân rồi thạc sỹ toán của Sorbonne và học ở đâu ông cũng đều xuất sắc, nên dù đã về nước đi dạy từ 1936 nhưng mãi sau này vẫn được người Việt Nam tại Pháp nhắc đến như một tấm gương học tập giỏi đến mức Pháp cũng tự hào về ông. Sau 1954 ông quay lại Pháp và làm việc trong lĩnh vực điện nguyên tử của Pháp, một ngành rất khó và “nhạy cảm”, thế nên ông không về nước được và cũng tương đối khó tiếp xúc với người đồng hương trong nước sang. Ông còn rất giỏi về chữ Hán và văn hóa, lịch sử nữa (Việt Nam truy tặng ông giải thưởng Hồ Chí Minh về lĩnh vực này). Còn trường Cầu đường Paris đã chọn giáo sư Hoàng Xuân Hãn đặt tên cho giảng đường đại học thuộc trường năm 2011. Trước đó, nhân kỷ niệm 100 năm truyền thống trường Cầu đường Paris, Giáo sư Hoàng Xuân Hãn được nhà trường vinh danh là một trong 100 sinh viên tiêu biểu nhất trong lịch sử của trường.


Chúng ta hãy chờ xem thế hệ sinh viên Việt Nam 7X-8X-9X ở Paris và Pháp (cũng rất xuất sắc đấy) sẽ thể hiện mình trong lịch sử nước nhà như thế nào!


Xem thêm và bình luận tại đây: https://www.facebook.com/namhhn/posts/817961861599086:0

'CÁC TRƯỜNG ĐẠI HỌC Ở PHÁP 1935-1945

(Một số ghi chép vụn vặt, không có tính thống kê hay so sánh)

Lớp trí thức đi học trước như Nguyễn Văn Huyên, Nguyễn Mạnh Tường, Hồ Đắc Di, Nguyễn Xiển, Trần Văn Giàu, Ngụy Như Kontum, Nguyễn Thúc Hào...lúc này đã về nước. Ông Huyên và em là Nguyễn Văn Hưởng đều sang Pháp, ông Huyên học cử nhân và tiến sỹ Sorbonne; cụ Di nhà có “điều kiện” đã học từ trung học rồi lên học trường Y ở Paris, có cả 4 anh em đều học Pháp là Hồ Đắc Điềm, Hồ Đắc Liên, Hồ Đắc Ân mỗi người một ngành. Thời 30-40 bắt đầu có nhiều người An Nam học ở Pháp hơn trước, họ mạnh dạn đổ bộ vào Paris, nơi mà đa số các trường khó nằm ở đấy. “Khó” ở đây là nói đến mức độ cạnh tranh đầu vào phải thi như thế nào (còn rất nhiều trường cứ nộp tiền học phí là được học thôi), nên cứ nói tốt nghiệp trường nào khoa nào là có thể biết khá nhiều về người đi học. Thử xem qua độ “khó” theo thứ tự “dễ” dần:

-École nationale des Chartres-trường Lưu trữ : trường khó vào học nhất ở Pháp, chỉ có Ngô Đình Nhu và sau này còn một người Việt nữa được theo học thôi (thời gian sau này thì không có thông tin). Dân Pháp cũng rất ít người học vì quá “khó”. Ví dụ bà Irene (vợ Pháp của ông Võ Quý Huân) tuy rằng phụ nữ nhưng cũng là một trong số hiếm hoi học trường này (bà biết 7 ngoại ngữ!)...Khi vào trường đã phải biết 4 thứ ngôn ngữ để thi tiếng Do Thái, Hy Lạp, Latin, Pháp cổ (thời Gaulois)-để khi ra trường đọc được, rồi làm việc tại các thư viện giữ gìn văn bản cổ. Ông Nhu với nền tảng học vấn ở trường lưu trữ này sau này trở thành “kiến trúc sư của chế độ miền Nam” và dựa vào thuyết Nhân Vị sáng lập đảng Cần lao tại miền Nam chứ không phải Ngô Đình Diệm cũng là dễ hiểu.

-Normale: Đại học Sư phạm Paris. Có Lê Văn Thiêm (toán), Trần Đức Thảo (triết), Phạm Duy Khiêm (anh ruột nhạc sỹ Phạm Duy-khoa ngữ văn)...học. Thời cuối thế kỷ thì có Ngô Bảo Châu. Còn có Normale Superieure (Saint Cloud): trường Cao đẳng Sư phạm chỉ dành cho con gái (không khó bằng trường con trai, nhưng cũng được coi là rất khó rồi!)

-École de Polytechnique –Bách khoa Paris: rất ít tuyển (ít hơn cả ngày nay, vì đang thời chiến tranh nữa). Hoàng Xuân Hãn, Phạm Hữu Lân. (Từ giữa những năm 90 nhờ chính sách tuyển mộ của Pháp nên hàng năm đều có có khá nhiều sinh viên Việt Nam xuất sắc được sang học ở trường này, ...).

-École de Ponts et Chaussées : Cầu đường -Hoàng Xuân Hãn, Xuphanuvong, Trần Đại Nghĩa (Phạm Quang Lễ), Trần Hữu Phương, Trần Lê Quang, Nguyễn Hy Hiền (Lê Tâm), Nguyễn Thành Long.

-École des Mines: đại học Mỏ: Đặng Phúc Thông, Võ Đình Quỳnh.

-École des Poudres –trường Thuốc nổ và Thuốc phóng: thi vào khó, chỉ có Tây được thi-lấy đủ cho quốc phòng thôi! VN không được thi, cũng như Enarque-Trường đại học Hành chính đào tạo cán bộ cho chính quyền Pháp.

-École de Agronomique: trường Nông nghiệp. Cũng vào loại khó, có bà Hoàng Thị Thế (con gái Đề Thám) tốt nghiệp loại xuất sắc, được lưu tên trên bảng vàng danh dự của trường.

-Tổng hợp Sorbonne: rất nhiều Việt Nam học. Ai đỗ tú tài thì cứ nộp lệ phí (khá rẻ), vào khoa nào học cũng được. Nhiều người Việt Nam thời đó học thêm nhiều khoa ở trường này, trái với suy nghĩ thông thường của chúng ta là học Sorbonne khó khăn lắm. Tuy vậy cũng vì giảng dạy chất lượng cao, “hay” nên nhiều người ghi tên học thêm ở đây là để học theo những thày giáo giỏi từng môn cụ thể, để trả những môn thi bắt buộc cho bằng cử nhân toán, cử nhân lý, cử nhân văn chương...rồi sau đó nếu thầy nhận thì mới làm tiếp tiến sỹ. Thi Agrege thì rất khó (vì số lượng có hạn từng năm), nhưng đỗ rồi chắc chắn có việc làm! Nguyễn Văn Huyên học rồi làm tiến sỹ ở đây về văn chương, Ngụy Như Kôn Tum là Thạc sỹ Lý-Hóa ở đây (được làm việc trong nhóm của thày Joliot-Curie nổi tiếng về vật lý hạt nhân). Phạm Huy Thông là một ví dụ thi được Agrege.

-École Centrale: trường đại học Cơ khí, hay gọi là “trường Piston”-muốn thi vào cũng phải học 2-3 năm toán cao cấp, nhưng dễ hơn vào các trường trên một chút vì thi toán dễ hơn và số lượng tuyển đầu vào đông hơn nhiều (thời đó Pháp cũng như thuộc địa cũng bị bệnh “trọng toán” nên hơi coi nhẹ các môn thi khác, và trường nào thi đầu vào toán cao cấp nặng thì đương nhiên coi là trường “top”). Ông Tạ Quang Bửu học ở đây (nhưng ông còn đăng ký học thêm mấy trường khác nữa, kể cả sang Anh một thời gian).

-Trường nhạc và Múa-Conservatoire de Music et de Danse, tất nhiên tuyển chọn theo năng khiếu. Ví dụ bà Vũ Thị Hiển học piano tại đây.

-Trường Mỹ thuật-École de Beaux Arts: vẽ, nặn tượng...có người Việt học.

Có nhiều trường nổi tiếng nhưng chỉ thuộc hệ cao đẳng: Vật lý-Hóa học của Paris (có dăm người đoạt giải Nobel đang dạy như Becquerel) cũng có nhiều người Việt học.

Trường Thủy lợi ở Grenoble không ở Paris nhưng khá nổi tiếng: Bùi Trọng Lựu học ở đây.

Thời đó người Việt không nhiều, Paris cũng còn “bé” nên thường biết nhau hoặc nghe tiếng về nhau hết. Ông Nguyễn Khắc Viện trước là bác sỹ ở Hà Nội, ở nhà đã nổi tiếng học giỏi, qua Pháp học tại trường Y Paris rồi thi làm bác sỹ Intern (giống Hoàng Xuân Mẫn)-cấp độ rất giỏi và khó! 

Hồi đó có hai người họ hàng khá nổi tiếng là Bửu Hội và Bửu Lộc, cùng là người có họ “Nguyễn Phúc” của hoàng tộc Huế nhưng đi học từ Hà Nội. Bửu Lộc học bình thường nhưng nhanh nhảu, giao thiệp rộng, sau này về miền Nam làm thủ tướng 6 tháng rồi trao lại chức cho Ngô Đình Diệm. Bửu Hội ngược lại, chuyên môn về hóa học hữu cơ rất xuất sắc, có thể nói tuy còn trẻ nhưng ông là nhà bác học nổi tiếng người Việt Nam duy nhất tại Pháp lúc này! Ông có hàng chục công trình, bằng sáng chế về tổng hợp dược phẩm để chống ung thư và được rất nhiều giải thưởng quốc tế của Pháp, Mỹ, Hà Lan...Sau này ông có dính dáng nhiều đến chính trị, làm đại sứ của chế độ miền Nam một thời gian và có lúc đại diện cho chế độ Diệm tại Liên hiệp quốc một thời gian ngắn (còn phía miền Bắc là Hà Văn Lâu-cũng người Huế-đại diện rất lâu năm). Có thể vì thế nên thông tin về ông rất ít ỏi...

Ông Hoàng Xuân Hãn học Bách Khoa rồi Cầu đường, sau đó sang lại làm cử nhân rồi thạc sỹ toán của Sorbonne và học ở đâu ông cũng đều xuất sắc, nên dù đã về nước đi dạy từ 1936 nhưng mãi sau này vẫn được người Việt Nam tại Pháp nhắc đến như một tấm gương học tập giỏi đến mức Pháp cũng tự hào về ông. Sau 1954 ông quay lại Pháp và làm việc trong lĩnh vực điện nguyên tử của Pháp, một ngành rất khó và “nhạy cảm”, thế nên ông không về nước được và cũng tương đối khó tiếp xúc với người đồng hương trong nước sang. Ông còn rất giỏi về chữ Hán và văn hóa, lịch sử nữa (Việt Nam truy tặng ông giải thưởng Hồ Chí Minh về lĩnh vực này). Còn  trường Cầu đường Paris đã chọn giáo sư Hoàng Xuân Hãn đặt tên cho giảng đường đại học thuộc trường năm 2011. Trước đó, nhân kỷ niệm 100 năm truyền thống trường Cầu đường Paris, Giáo sư Hoàng Xuân Hãn được nhà trường vinh danh là một trong 100 sinh viên tiêu biểu nhất trong lịch sử của trường.

Chúng ta hãy chờ xem thế hệ sinh viên Việt Nam 7X-8X-9X ở Paris và Pháp (cũng rất xuất sắc đấy) sẽ thể hiện mình trong lịch sử nước nhà như thế nào!'
Ý kiến không được cho phép