NGƯỜI VIỄN ĐÔNG

Nơi chia sẻ và lưu giữ các bài viết của Nam Nguyen

TRONG TRẮNG ĐỒ SƠN – P.1


Đồ Sơn đã từ lâu đồng nghĩa với việc “không đi không biết...” hay nói cho vuông là vương quốc tệ nạn cho đấng mày râu, nhưng có thể không nhiều người biết, vùng đất này có một quá khứ khác hẳn, và tôi cũng có duyên được là một nhân chứng nhỏ, một người mà có những kỷ niệm không thể nào quên đối với địa danh này.


Thời đất nước bị chia cắt, người dân miền Bắc lo “ba sẵn sàng” với “ba đảm đang” rồi “tất cả cho tiền tuyến” cho nên làm gì có mấy ai nghĩ đến và có điều kiện nghỉ ngơi-hồi đó hay dùng từ “nghỉ mát”- cho ra nghỉ (chứ thời Pháp thuộc thì lại khác đấy nhé!). Ngay cả các cán bộ cấp cao nhất và gia đình họ cũng chỉ có rất ít lựa chọn để nghỉ ngơi. Hồi năm 50-60 thì có Tam Đảo, các “cụ” hay nghỉ ở đó cho gần Hà Nội chứ Sa Pa thì xa quá, nhưng về sau các biệt thự từ thời Pháp để lại cứ xuống cấp dần nên cuối cùng thế là mất mất một ngơi nghỉ mát quý báu. Hạ Long thì đi cũng rất xa, mà hồi đó thì bãi chán lắm, nhiều hà, lại khó cho công tác bảo vệ thì phải-thế nên chỉ có Đồ Sơn là lựa chọn tốt nhất cho các gia đình của những lãnh đạo cao cấp đi “nghỉ mát”.


Tôi hồi đó còn là một cậu bé, cũng nhờ “gia đình có điều kiện”, nên từ 1968-1980 hè năm nào cũng được bám càng gia đình ra nghỉ mát ở Đồ Sơn. Phải nói là đối với tôi, đó là những khoảng thời gian sung sướng nhất trong năm, là niềm mơ ước “đến hẹn lại lên”, là món quà cho cả một năm học hành phấn đấu...đến mức Đồ Sơn đã thành địa chỉ thân thương, niềm khát khao tuổi trẻ của tôi. Có dịp đi cả những nơi khác để “nghỉ mát” hồi đó như Hạ Long, Đồng Châu, Trà Cổ, Sầm Sơn...nhưng không chỗ nào có thể sánh được với Đồ Sơn “của tôi”!


Từ Hà Nội đi Đồ Sơn phải đi mất cả ngày, riêng chuyến đi đối với trẻ con chúng tôi đã là một trải nghiệm tuyệt vời rồi. Đi qua mấy cái cầu lớn như Long Biên, Lai Vu, thường là xuất phát từ sáng sớm mà buổi trưa mới đến Hải Phòng, hay nghỉ lại đây ăn cơm trưa ở nhà khách Hồng Bàng rồi mới đi tiếp. Gần tới Đồ Sơn hương vị biển đã mặn mặn, cảm nhận được rất rõ (sau này đi nhiều nước khác, thấy đứng ngay cạnh biển mà không có cảm nhận vị mặn của biển, thật lạ lùng...). Hồi đó Đồ Sơn đã chia làm 3 khu như bây giờ. Khu 1 để cho “nhân dân anh hùng” nghỉ, nhưng thực ra cũng chỉ có mấy nhà khách của quốc doanh như Lâm Nghiệp, Điện Lực, Bưu Điện...khách vãng lai không nhiều, chủ yếu các đoàn của cơ quan đoàn thể tới nghỉ. Bãi biển rộng rãi, nhưng đối với trẻ con chúng tôi thì thường xuyên sóng lớn, khó tắm. Nhớ nhất là hàng đoàn thuyền chiều chiều cập về bờ, chắc là nhiều các bà, các chị ra đây mua được cua cá tươi. Đi hết khu 1 sẽ thấy một trạm gác quân sự, có barie, qua đấy phải trình giấy giới thiệu, sau đó mới là khu 2, là một thế giới khác hẳn.


Khu 2 chỉ có 9 căn biệt thự, căn số 9 có thể ở được 2 gia đình, còn lại chỉ một gia đình ở một căn, thế cho nên thời gian “nghỉ mát” của từng gia đình phải được thống nhất, sắp xếp trước qua Ban tổ chức (không nhớ là TW hay CP gì nữa, trẻ con chả quan tâm), bởi vì cả mùa chỉ được có hơn 3 tháng (chủ yếu 6-7-8). Căn nào cũng có thiết kế khác nhau, theo kiểu biệt thự nghỉ biển của Pháp, cũng đơn sơ thôi nhưng đối với chúng tôi hồi đó thì đẹp tuyệt vời!


Cả một khu tĩnh mịch, sóng biển vỗ rì rào, chả mấy khi có tiếng xe cộ, bãi cát đối với chúng tôi thời đó là “trắng phau”, xa xa đảo Hòn Dấu và chỉ thi thoảng mới có mấy cánh buồm nâu của thuyền đánh cá. Cây cối um tùm làm dịu hẳn cái nóng nực mùa hè, nhiều nhất thì phi lao, nhưng ngoài ra tôi vẫn nhớ có nhiều cây đa, bàng, dừa, dâu da...và rất hiều hoa! Ngày nay cũng nhiều resort trồng nhiều cây đẹp thật, nhưng cảm giác không được “tự nhiên” như Đồ Sơn ngày đó.


Ra đến biển thì việc chính của trẻ con chúng tôi là tắm-sáng tắm, chiều tắm, nhiều hôm trưa cũng trốn ngủ ra tắm-Đồ Sơn với Tăng Bạt Hổ là nơi tôi học được bơi, chả nhớ chỗ nào học được trước nhưng có “sở học” gì đều mang ra đây luyện say sưa. Phao bơi hồi đó là cái săm của lốp dự phòng của ô tô, nhà nào cũng vậy, trẻ con như tôi thích chui vào giữa hoặc nằm tênh hênh bên trên-đen một cái là săm nào cũng có cái kim bơm, năm nào nhận được cái săm có kim nhọn hoắt thì biết là năm ấy “xúi quẩy”-thế nào cũng sẽ bị mấy vết xước rướm máu vì cái vật nhọn quái quỷ đó! Kệ, tôi và bọn trẻ (trẻ con các nhà chơi với nhau nhanh lắm) bất chấp hết, cứ bì bõm suốt. Mà ở dưới nước mát hơn trên cát, hồi đó làm gì có dù hay ghế bố mà nằm, cứ vứt dép là phi xuống nước luôn, nhất là ở Việt Nam mấy ai phơi nắng...Nước Đồ Sơn có đục thật, nhưng hồi đó làm gì có nước biển Nha Trang mà so sánh, nên chẳng có vấn đề gì, có nhưng hôm động biển, nước đầu sông đổ về đỏ ngầu vẫn bơi tốt!


Tôi bắt nắng rất nhanh, hai buổi là đã đen như củ súng, chỉ thấy mỗi hàm răng, mọi người gọi là “Cu Ba” vì thế. Người lớn ít xuống tắm, tắm nhiều nhất là nhà ông Tôn Thất Tùng. Ông Tùng tóc bạc trắng, hồng hào, mặc quần soóc (hồi Pháp thì nhiều người mặc quần soóc, chứ đến những năm 60-70 tôi chỉ thấy có ông-ấn tượng lắm đấy!). Ông bơi giỏi lắm, chính ông chỉ cho trẻ con cách nằm nổi thẳng trên mặt nước, chỉ cần vẫy nhẹ mấy ngón chân. Mọi người hồi đó cứ bảo ông béo thế mới nằm được chứ mình gầy nằm chìm dần-chả hiểu có đúng lý do như thế không, nhưng quả là hồi đó bọn tôi không tập được, mãi sau này mới nằm được như thế thôi thì lúc đó cũng đã chả gầy nữa, nên đến nay vẫn là điều băn khoăn...


Vì chỉ có mấy gia đình nên đi ăn là gặp nhau hết, ở đó không có hàng quán gì mà chỉ có một nhà ăn chung hai tầng, cứ đến giờ là các nhà lục tục kéo nhau đi ra đó. Tầng một để mấy cái bàn, đã bày đồ ăn cho từng gia đình, tầng 2 là “câu lạc bộ”, ít khi dùng lắm, tôi chỉ lên đó một lần khi có chiếu phim. Có năm ở chỗ hòn non bộ có xích một chú khỉ, thế là chúng tôi chơi với nó hàng giờ khôgn chán! Thời bao cấp đói khổ ấy bữa cơm cũng thật “khiêm tốn” so với bây giờ: sáng mỗi người một bát phở hay miến, trưa và tối thì có cá rán, có thịt, rau và một món canh gì đấy. Với những đứa trẻ hoạt động hết công suất như chúng tôi thì thế là quá ngon rồi, nhưng đói to, thiếu nhất là cơm, mà đồ ăn thời đó thì có tiền cũng chả có chỗ mua. Phụ huynh có mang được ít bánh kẹo nào đi thì ăn tạm đỡ đói, mà càng ăn lại càng thấy thiếu mới khổ thân tôi...Mình vẫn nhớ có lần vừa ăn xong đã kêu đói, cụ hòa thượng Thích Trí Độ ngồi ăn một mình bàn bên cạnh nghe thương quá, mang cho nửa âu cơm của cụ...Cụ và một ông trung tướng Syria trẻ măng, chỉ độ 25 tuổi, là những người lớn ấn tượng nhất đối với bọn trẻ chúng tôi thời đó!


Những nhà số 1, số 2 thường dành để cho các “lãnh đạo” tới ở. Mỗi khi sắp có một “lãnh đạo” xuống nghỉ là bọn trẻ chúng tôi được các chú bảo vệ và các cô phục vụ ở Đồ Sơn cập nhật ngay. Có một quy luật chả hiểu có đúng không, nhưng trẻ em chúng tôi quan sát nhiều năm đã rút ra: các “lãnh đạo lớn” không bao giờ đi nghỉ với gia đình, họ xuống Đồ Sơn để vừa nghỉ ngơi, vừa họp hay soạn thảo một văn kiện gì quan trọng. Thế nên khác nhà chúng tôi, các “lãnh đạo” ít khi đi Đồ Sơn lâu, cũng chả mấy khi ra biển, và cũng không ra ăn tại nhà ăn chung. Nếu ông Duẩn xuống, thì cảnh vệ phải tăng cường đến cả trung đội hay đại đội (trẻ con chúng tôi nghe thế), còn ông Đồng, ông Giáp, ông Chinh, ông Trinh xuống thì tăng cường một tiểu đội. Ông Chinh thích xem phim thì phải, cái phim tôi được xem ở tầng hai chính là lúc có ông xem, người ta mới chiếu, chả nhớ phim gì...


Kỷ niệm của tôi lần đầu gặp ông Giáp đến giờ vẫn như mới ngày hôm qua. Lúc đó buổi sáng sớm, thủy triều rút xuống xa tít, sóng chỉ lăn tăn, chưa đến giờ ăn sáng nên tôi tranh thủ chạy ra chơi và nhặt ốc với đuổi bọn dã tràng đang xe cát. Chơi chán rồi tôi nằm ở mép nước, để nước cứ xâm xấp mặt, nghịch cho vui. Lúc đó thấy một bác thấp bé, trắng trẻo đi dọc mép nước, xung quanh có mấy chú thanh niên trẻ hơn, ai cũng mặc quần đùi cả. Đi qua chỗ tôi bác ấy dừng lại, nói với tôi cái gì đó, nhưng nước đang lùng bùng trong tai tôi nghe chả rõ, giọng bác cũng lạ lạ nên tôi đâu có hiểu. Đi thêm một đoạn, có chú thanh niên chạy quay ngược lại, bảo với tôi là “bác Giáp nhắc cháu đừng nằm như thế, nước vào tai có cả cát với đất, hỏng tai đấy cháu ạ...”


Năm nào nhà tôi được phân vào nhà số 6 thì trẻ con chúng tôi cực kỳ phấn khích, vì ở tầng 1 nhà này có bàn bóng bàn-thế là những lúc trở trời hay xế chiều là bọn tôi thì nhau quần thảo tại cái bàn này! Có hôm chúng tôi tham quá, cứ chơi mãi, thấy một bác với hai anh con trai đứng chờ dài cổ, mãi sau chú bảo vệ mới nhắc khẽ “các cháu để ông Nguyễn Văn Trân chơi một lúc đi, bác ấy chờ mãi...” thì mới nhường! Ông Trân chơi giỏi lắm, và cả nhà ấy ai đánh cũng hay cả, bọn tôi chầu rìa xem cũng khoái... Có lúc hết nhà khu 2, gia đình chúng tôi ở khu 3 thì cũng có một bàn bóng bàn ở “Pa-gô-đông” là nơi sinh hoạt chung, sau này thành một quán ăn to cho cả khu.


Ngoài bóng bàn ra thì trẻ con còn lắm trò lắm. Đi lang thang nhặt búp đa, hái sim, hái quả lạc tiên ăn (lại ăn!), gặp các chú bảo vệ ngồi tán tỉnh mấy cô cấp dưỡng trên ghế đá. Hồi đó chỗ nhà khách xây dựng còn chưa có, đường ra đấy cũng không, nói chung biển phía sau chỉ nhìn thấy chứ không có đường xuống, chúng tôi chỉ tắm bãi 2 phía trước thôi. Đi quá lên nữa, gần ra đến khu 3 (cách nhau cũng bằng một trạm gác quân đội) là cái bờ đá cao, chúng tôi đã từng thả câu ở đây, cả ngày có khi chỉ được hai ba con cá bằng bàn tay, còn thì lưỡi câu toàn mắc vào đá ngầm, phải lội xuống gỡ rách hết chân...thế mà vẫn hể hả lắm. Trên đồi thì nhiều sim, nhưng các chú bộ đội dặn là đừng có loang quạng lên doanh trại đấy nhé, đâm cũng sợ chả dám mò lên. Hồi đó có nghe loáng thoáng “đoàn tàu không số” nhưng mà bé quá nên tôi cũng bỏ ngoài tai. Hè nào nhà tôi cũng qua thăm khu biệt thự Vạn Hoa của Bảo Đại ở mỏm biển khu 3- cả khu cửa đóng then cài im ỉm, nhưng không dấu được vẻ đẹp kỳ vĩ của một lâu đài đã chứng kiến những sự kiện lịch sử. Quả thật đó là vị trí đẹp nhất của cả vùng Đồ Sơn!


Buổi tối vắng và chỉ nghe thấy tiếng côn trùng rả rích, cả khu cũng chưa có được một cái vô tuyến (mà chắc có thì cũng chả bắt được sóng đài Hoa Sen). Chúng tôi hay nằm trên kè đá dọc bờ biển, ngước lên nhìn sao trời để chờ sao đổi ngôi, hoặc nghe người lớn kể chuyện. Chính tại Đồ Sơn tôi mới hiểu ra hiện tượng trăng tròn, trăng khuyết, thủy triều...Hết năm lớp 4 người lớn đố tôi “tại sao thuyền buồm ở gần ta thấy được cả thuyền, mà ra xa chỉ thấy đỉnh cột buồm?”-lúc đó tôi đã biết quả đất tròn rồi, thế mà không “luận” ra được, kém thật!


Những ngày cuối sắp phải về Hà Nội bao giờ chúng tôi cũng cố bơi càng nhiều càng tốt, có hôm biển động, chiều phải về rồi mà trẻ con vẫn phải ra vầy nước, người lớn phải ra canh vì sóng đã to lắm rồi! Có lúc bơi lắm, uống phải nước nhiều quá, mặt mũi nhợt nhạt hẳn, ăn cơm nuốt còn đau rát cổ! Chuyện ngồi trên phao mà sóng đánh lật úp cả phao lẫn người là thường xuyên, thế nên hồi 6 tuổi tôi có làm một “sáng tác đầu đời” :


“Đồ Sơn sóng vỗ rì rào
Cu Ba tắm biển lộn nhào qua phao
Mọi người chỉ trỏ xôn xao
Ta đây đứng dậy đi vào như không...”


Vì là bạn học và cùng quê với bác Tố Hữu, hôm sau bố tôi dẫn tôi sang nhà ông (đến giờ tôi vẫn nhớ là nhà số 2) để bảo tôi đọc thơ cho bác ấy nghe. Tôi thì sợ quái gì, đọc ngay hehe, nghe xong bác xoa đầu tôi rồi bảo với bố tôi “thằng ni nói trạng dữ hè...” rồi cứ gọi tôi là “thằng trạng”, làm tôi nở hết cả mũi vì nghe thấy “trạng”, tôi tưởng bác ấy khen tôi ghê lắm, ai dè lúc về bố tôi mới bảo “bác ấy bảo con chỉ giỏi mỗi nói phét thôi!”. Hóa ra ở Huế nói phét người ta bảo là nói trạng!!! Được cái khi về Hà Nội bác Tố Hữu có gửi cho tôi một quyển thơ của bác, cũng thể lục bát-“chuyện em Hòa”:


“Tên em là Nguyễn Văn Hòa
Mẹ em thường gọi em là cu Theo
Cha đi tập kết, nhà nghèo...”


Sau này ngẫm lại tôi mới thấy có khi mấy lời của ông Lành đã vận vào mình, làm gì không biết chứ ba hoa bốc phét thì tôi đâu có đến nỗi nào!


Hè 2014 tôi dẫn trẻ con nhà mình quay lại Đồ Sơn thân thương, nó đã hoàn toàn đổi thay mà trong đó cũng không phải không có sự liên hệ đối với cuộc đời tôi (xem tiếp phần 2-3). Lại một đêm đầy sao, lại câu đố đối với đứa con mới hết lớp 1, câu đố về “cột buồm” như ngày xưa người lớn đã đố tôi. Cứ tưởng nó ngố thế thì chịu cứng, thế mà không ngờ nó đi học cái lớp Fastrack Kid gì về thiên văn học, nó lại biết trả lời được mới lạ chứ! Thôi thì chúng nó cứ hơn cha nó đi, nhưng chúng nó làm gì biết cách ăn sim, ăn lạc tiên, bắt châu chấu, mò cua bờ đá ban đêm...


Tôi rời xa Đồ Sơn thân thương từ hè 1980, và phải khá lâu sau mới lại quay lại...Nhưng trong ký ức của tôi, Đồ Sơn mãi vẫn là những ngày hè nắng gió đẹp nhất của tuổi ấu thơ...

(ảnh minh họa: sưu tầm)


P.S. Hôm qua nói chuyện lại với bố tôi về buổi “bình thơ” ở Đồ Sơn với nhà thơ quá cố Tố Hữu, cụ có nhắc lại nội dung buổi “chém gió” của hai đồng hương Huế đấy. Tất nhiên việc “nói trạng” của thằng tôi là đề tài phụ thôi, mà đề tài chính là 2 ông nghĩ ra một câu đối bằng tiếng Huế Kẻ Lừ (của làng ngoại thành Huế), sao cho dân Bắc nghe mà chả hiểu chữ nào cả. Cuối cùng nghĩ được 2 câu, hình như bây giờ cũng chưa ai đối: 
CẤY DÔÔNG ĐẬP CHẮC MỪNG RĂNG ĐẶNG CHỪ
(VỢ CHỒNG ĐÁNH NHAU LÀM SAO BÂY GIỜ)

CONG TÂU, CÂY TE, CÁI BE ĐỊA RẦU, CÁI BẦU THUỘC RÍNH
(CON TRÂU, CÂY TRE, CÁI VE, ĐĨA DẦU, CÁI LỌ THUỐC DÁN )

(2 cụ nhắc lại chuyện có thật: ở Quốc học Huế có cụ Đôn-nhà giáo già dạy chữ Hán-sáng nào đến lớp cũng hỏi học trò một câu: “VỢ SẠCH ĐÃ ĐỤ CHƯA” (VỞ SÁCH ĐÃ ĐỦ CHƯA?) và cả lớp phải trả lời đồng thanh: “THƯA CỤ ĐỤ RỒI Ạ”).

Ngoảnh đi ngoảnh lại, đã gần nửa thế kỷ...


Xem thêm và bình luận: https://www.facebook.com/namhhn/posts/782066505188622


Nam Nguyen's photo.
Nam Nguyen's photo.
Nam Nguyen's photo.
Nam Nguyen's photo.
Nam Nguyen's photo.
Ý kiến không được cho phép