NGƯỜI VIỄN ĐÔNG

Nơi chia sẻ và lưu giữ các bài viết của Nam Nguyen

NHỮNG TẤM GƯƠNG THÁNH THIỆN 2) MẸ TERESA-THỬ THÁCH CAM GO NHẤT

“Teresa từ Calcutta” cũng sinh năm 1910 như Irena Sandler nhưng bà đã từ lâu nổi tiếng là người có tấm lòng thánh thiện bao dung nhất thế giới. Nhưng ngược lại, Mẹ Teresa cũng luôn chịu rất nhiều sự soi mói, đả phá của người đời, từ trước khi bà mất đi năm 1997 cho đến ngày hôm nay. Lâu lâu lại có một số nhà báo háo danh, công bố những nghiên cứu “vạch trần”, họ chê bà không biết quản lý tài sản quyên góp được, chữa chạy cho bệnh nhân không đúng với chuẩn mực của y tế hiện đại, có cách nhìn nhận cổ hủ về ly hôn, phá thai, chỉ bo bo lo cho quyền lợi của Nhà thờ La Mã... Lúc sinh thời bà không bao giờ thanh minh, chỉ mỉm cười rồi lại tiếp tục công việc của mình, còn ngày nay chúng ta chính là những người phải nhìn lại cuộc đời của bà, vì bà đã là một trong những cá nhân vĩ đại nhất của thế kỷ 20, và sự đàm tiếu của người đời không phải thử thách khó khăn nhất mà bà đã phải trải qua!

Bà sinh ra  với tên Agnes Gonxha Bojaxhiu tại Skopje, thủ phủ của Cosovo thuộc đế quốc Ottoman, nay là thủ đô của Macedonia (Nam Tư cũ) nhưng là người Albani. Con út của một gia đình khá giả và hạnh phúc, bà được giáo dục theo lối Thiên chúa giáo từ bé, mặc dù đây là vùng thịnh hành của đạo Hồi. Khi bà lên chín thì người cha bị đầu độc chết bởi các hoạt động chính trị của mình, Gonxha (“nụ hoa”-tên gọi ở nhà của bà) càng chăm đi lễ nhà thờ, và bà đã biết giúp mẹ trong việc làm từ thiện của người mẹ tốt bụng này: ngày hai bữa đem đồ ăn cho bà hàng xóm nghiện rượu, hay cứu giúp gia đình nghèo một mẹ sáu con trong khu phố (đến khi bà góa này chết, thì cả mấy đứa con bà sang nhà Agnes ở như ở nhà mình...). Gonxha sinh hoạt ở nhà thờ, đọc rất nhiều về những người  Nam Tư theo đạo Thiên chúa phụng sự tại Ấn Độ, và hàng năm cô bé đều đi hành hương về Chernogory. Năm 12 tuổi, khi viếng thăm tượng Đức Mẹ ở đây, Gonxha lần đầu tiên nghe thấy tiếng gọi hãy phụng sự Chúa từ bên trong, nhưng lúc này còn quá bé, cô chưa muốn thành bà sơ, và đã nén đi tiếng gọi dai dẳng đó...

Khi cô kể lại về tiếng gọi đó, chỉ có ông cố đạo khẳng định đó là tiếng gọi của Chúa, và khuyên cô hãy nghe theo tiếng gọi từ trong trái tim mình. 6 năm sau khi nghe về những giáo đoàn tại Ấn Độ cô bé 18 tuổi đã quyết tâm “ra đi và kể về Cristo cho tất cả mọi người” ở Ấn Độ. Muón vậy cách duy nhất là phải đi Dublin để ra nhập đoàn sơ Loreto và sau khi học tiếng Anh thì sẽ xin sang Ấn Độ. Trên sân ga cả khu phố cùng với mẹ và chị đã tiễn chân Gonxha, nhưng cũng chẳng ai có thể tin đây là lần cuối còn thấy nhau...

Sau mấy tháng vật vã trên tàu biển Agnes đến được Calcutta, rồi được chở đến Dazziling-một thành phố bé dưới chân dãy Himalaya hùng vĩ quanh năm băng tuyết, nơi có tu viện của dòng Loreto, bà sẽ học và trở thành nữ tu sĩ ở đây. Hai năm sau khi học bà cùng chúng bạn được gửi đến một bệnh xá nhỏ ở thành phố Bengal, để giúp các nữ tu sĩ chăm sóc cho các bệnh nhân. Cảnh nghèo khó và đau đớn bất tận của bệnh nhân ở đây đã làm đảo lộn mọi suy nghĩ của Agnes...



Năm 1937 bà chính thức được trở thành nữ tu sĩ, lấy tên thánh là Teresa (theo tên của một nữ tu sĩ người Pháp chuyên làm việc phúc đức cho người đời từ thế kỷ 19). Bà làm trưởng chi nhánh của một trường học tại Bengal, trường này nằm ngay gần khu “ổ chuột” của Calcutta nên hàng ngày bà có thể quan sát thấy cảnh khổ của những kẻ khổ nhất Ấn Độ nơi đây, và bà vừa dạy học vừa làm từ thiện ở các bệnh viện để giúp đỡ dân nghèo.

Cuối 1946 khi biết mình bị lao, bà quay về tu viện ở Dazziling nghĩ dưỡng, và đã có “chuyến đi quan trọng nhất cuộc đời”. Đang lim dim trong toa tàu, bà lại nghe lại giọng nói năm xưa, đây là lần thứ ba, vang lên trong chính mình “Hãy đi và sống giữa những kẻ cùng khổ, và ta sẽ ở bên con!”. Teresa đã hiểu ra ngay vấn đề, bà phải bỏ tu viện, bỏ trường học, đến sống vớ những kẻ nghèo khó bệnh tật nhất, bà “biết đó là mệnh lệnh của Chúa nhưng chưa biết phải làm như thế nào...”

Khi kể lại cho các tu sĩ khác cũng như cấp trên của mình, Teresa gặp phải cả một bức tường ghẻ lạnh, bà đâm ra ốm rất nặng, tưởng chừng không thể qua khỏi. Trong mơ bà đã đến cổng thiên đàng, gặp thánh Pitơ và Ngài nói với bà: “Con đến đây làm gì? Nơi đây không có việc gì cho con cả, thiên đàng không có người cùng khổ, con sẽ chăm sóc ai ở đây?”. “Vâng thế thì con đi, nhưng sẽ mau chóng gửi bọn họ đến đây, con sẽ đưa đến từ khu ổ chuột”-và bà đã hồi sinh như vậy!

Phải mất hai năm Teresa mới xin được phép sống và làm việc với người cùng khổ, từ tận Vatican phải có sự can thiệp! 1948 bà ra khỏi tu viện Loreta với điều kiện vẫn chấp hành 3 điều răn: sống khổ hạnh, trinh bạch và ăn chay. Đó là ngày 16/8/1948 bà phải trả lại áo tu sĩ, mua một áo xari trắng, tự may thêm một vành khăn quàng xanh da trời, với khoảng nửa đô la trong túi và một tình yêu vô bờ với Chúa.

Bà đi học lớp y tá cấp tốc, để đủ hiểu biết còn chăm sóc người bệnh. Bà học cấp tốc lớp 12 tháng chỉ trong vòng 4 tháng, hàng ngày chỉ ăn gạo và muối. Học xong bà quay về khu phố bần cùng nhất của Calcutta là Moti Gil, dụng cụ y tế đầu tiên chỉ là một bánh xà phòng, vừa để rửa tay vừa để rửa vết thương cho người bệnh. Ngay dân khu phố này cũng không hiểu từ đâu ra một phụ nữ châu Âu mặc xari rẻ tiền, nói rất giỏi tiếng địa phương và mang lại cho họ sự sạch sẽ, ấm áp và sáng sủa! Bà ngủ trên sàn trải rơm, dạy trẻ con nhà nghèo học chữ...Cả người lớn, trẻ con gọi bà đơn giản là “Mẹ”.

Bà không cầm lòng được khi thấy cảnh người con dẫn bà mẹ bị hủi giai đoạn cuối ra quảng trường rồi bỏ mặc đấy, bà mẹ nằm hấp hối mặc cho chuột rỉa thịt-ở Ấn Độ người bị hủi được coi là Chúa trời trừng phạt và vô phương cứu chữa, thậm chí người nhà giàu cũng sẽ bị bỏ rơi (riêng Calcutta có tới hàng trăm ngàn người hủi!?). Mẹ Teresa chạy khỏi chỗ đó và khóc, khóc cho sự bất lực của chính mình, vì đã không chịu được cảnh đó, mùi hôi thối máu me đó...Bà cầu xin Chúa cho bà thêm sức mạnh, Bà đã quay lại, đuổi lũ chuột đi, lau rửa vết thương cho người phụ nữ xấu số, rồi đưa vào bệnh viện, dù bệnh viện kiên quyết không chạy chữa thì mẹ Teresa thề là sẽ không rời nửa bước nếu bệnh viện không làm tròn y đức...Cuối cùng thì người phụ nữ kia đã được cứu chữa, bà ta cũng vẫn lìa đời, nhưng đã nở nụ cười đẹp nhất mà mẹ Teresa từng thấy!

Có một cô học trò cũ con nhà giàu ở Bengal tìm đến bà, muốn làm theo gương của bà nhưng mẹ Teresa nói rằng không nên, con chưa sẵn sàng cho công việc này đâu. Ngày 19/3/1949 cô bé quay lại, trên người cũng chỉ có một bộ xari nghèo khổ, và bà đã đón nhận người học trò đầu tiên của mình, cho cô bé mang tên thánh Agnes chính là tên của bà thời trẻ. Chẳng bao lâu sau số người theo bà lên tới 12 người, và ngoài 3 điều răn như của tu viện Loreta mẹ Teresa bắt tất cả tuân theo thêm một điều răn nữa: giúp đỡ người nghèo khổ nhưng không bao giờ được nhận lại bất cứ cái gì cho bản thân mình! Họ cũng ngủ trên sàn lót rơm như bà, dạy đọc kinh từ 4 giờ sáng rồi làm việc 16 tiếng mỗi ngày-“đối với chúng tôi ngày nào cũng là ngày lễ”.


Bà xin phép Vatican lập “Dòng Thừa sai Bác Ái” (dòng thánh duy nhất được thành lập trong thế kỷ 20 và trực thuộc Giáo hoàng). Mẹ Teresa ngày càng có đông tín đồ, đến từ khắp các vùng, và sau này còn đến từ các nước khác nữa...Hoạt động chính của họ là đón nhận những bệnh nhân đang hấp hối, chăm sóc họ và cho họ được chết trong yêu thương. Chính quyền Calcutta cho mẹ Teresa một ngôi nhà trống ngay gần đền thờ nữ thần Kali-thần Chết trong tôn giáo Ấn Độ và cũng là thần bảo hộ cho Calcutta. Và ngôi nhà được mệnh danh là “Nhà dành cho cái chết”được mở 24/24 để chăm sóc cho những kẻ hành hương đến đây lần cuối trong đời, và sau đó những cơ sở tương tự mọc ra khắp Calcutta, và gặp rất nhiều...sự cản trở của giới doanh nghiệp! Lý do là sau trận đói lịch sử ở Bengal năm 1943 Ấn Độ dẫn đầu thế giới về ...xuất khẩu xương người-một kẻ nhanh nhẹn đã nghĩ ra ngành kinh doanh này! Hắn cho những nhân viên được đào tạo hẳn hoi đi vớt xác người ở sông hồ, hay nhặt trên phố, trong bãi rác...rồi mang về cho vào những nồi cực lớn, nấu lên cho róc hết ra, chỉ còn lại xương, và xương đó được các nước Âu, Mỹ mua khá nhiều làm dụng cụ học tập, nghiên cứu...Lấy cớ mẹ Teresa chỉ muốn lôi kéo nhiều con chiên cho đạo thiên chúa để đòi đóng cửa những trung tâm này, các chính trị gia và các nhà tôn giáo Ấn Độ chỉ yên lòng khi tận mắt chứng kiến mẹ Tereza và các đồng sự không hề cải đạo bắt buộc cho những người hấp hối, mà vẫn chăm sóc họ đến chết, rồi hỏa thiêu và rắc tro xuống sông Hằng theo đúng tục lệ lâu đời. Hơn thế nữa, họ không chỉ chăm sóc người chết, mà còn chữa được bệnh hủi cho rất nhiều người, không hề phụ thuộc vào tín ngưỡng của bệnh nhân.

Dòng Thừa sai Bác Ái càng phát triển ở khắp các châu lục thì càng nhiều phóng viên tìm đến mẹ Teresa xin phỏng vấn, nhưng mẹ thường trả lời rằng “không cần phỏng vấn tôi đâu, hãy cứ nói chuyện với Chúa trời!”. Có phóng viên khi tận mắt thấy mẹ Teresa chăm sóc cho người bị bệnh hủi, khắp người hôi thối đã kinh sợ mà nói rằng “có cho tôi mộ triệu đô la thì tôi cũng từ chối làm như vậy” thì mẹ Teresa trả lời “Tôi cũng chẳng làm dù có được cho một triệu, tuy vậy tôi sẽ làm không công, vì tình yêu!”. Khi quay một phóng sự khác, họ theo mẹ Teresa trèo lên đống rác khổng lồ của Calcutta, bà dùng tay không bới trong đám thối hoăng ấy ra những đứa trẻ sơ sinh bị bỏ rơi, có đứa còn chưa cắt rốn, tất cả đều được mang về nuôi, kể cả những trẻ có cố tật bẩm sinh (nhưng đa số là những bé gái khỏe mạnh, người Ấn không muốn có nhiều con gái vì sẽ là gánh nặng cho gia đình sau này!). Những đứa khỏe lớn lên sẽ tìm được bố mẹ nuôi, rất nhiều đứa theo bố mẹ ra nước ngoài, còn lai những đứa có khuyết tật bẩm sinh hoặc bị bệnh tâm thần sẽ lớn lên với mẹ Teresa, và đó là những đứa con được yêu quý nhất...

Mẹ Teresa và các đệ tử tuyên truyền cho dân Ấn Độ rõ, là hủi không phải là bệnh di truyền, có thể chữa được. Bà cho lập ra những làng nhỏ, ở vùng xa để cho các bệnh nhân hủi ở chung, có trường học cho trẻ em, có bệnh xá, có việc làm cho người lớn...và sau này trở thành cả “Thành phố hòa bình” cho người hủi. Khi chính quyền Calcutta ban lệnh bắt buộc người hủi phải triệt sản mẹ Teresa đấu tranh quyết liệt nhất, vì theo bà bệnh nhân hủi phải có cuộc sống đáng được tôn trọng, và bất cứ đứa trẻ nào của gia đình hủi cũng sẽ được bà coi như món quà của Chúa ban. Những cô gái của  Dòng Thừa sai Bác Ái tuy tuân thủ điều răn giữ gìn sự trinh trắng nhưng vẫn đi từng nhà giảng giải cho các cặp cách sinh ra những đứa con khỏe mạnh đúng theo ý muốn, chúng sẽ được “Mẹ” đón về nuôi ở những “Nhà thiếu nhi” để không bị lây nhiễm bởi bố mẹ. Bà chống lại mọi hình thức phá thai hay ly hôn...Cuối cùng thành phố phải chịu thua “Mẹ” và bỏ cái lệnh bắt buộc kia. Mô hình “Nhà thiếu nhi” ngày nay đang tồn tại ở nhiều nước.

Năm 1964 bà được gặp và Giáo hoàng Pavel 4 cho phép Dòng Thừa sai Bác Ái mở ra ở bất cứ đâu, thì nó lan tỏa rất nhanh trên khắp các châu lục. Người ta có thể không đứng trong dòng tu này, nhưng làm cộng tác viên tình nguyện cho nó-chỉ cần làm những việc tốt cho những người khó khăn ở bên cạnh chúng ta. Nổi tiếng nhất là những cộng tác viên mà bản thân họ là những người bệnh tật, không thể làm được gì cho dòng tu, nhưng bằng lòng tin của mình, bằng những lời cầu kinh của mình đã đem lại những điều tốt lành cho dòng tu cũng như các bệnh nhân khác...đóng góp của họ được mẹ Teresa đánh giá đặc biệt cao (còn công sức của mình chỉ là “giọt nước trong biển”)!

 Khi loài người biết đến SIDA thì mẹ Teresa đã lập tức mở trung tâm chăm sóc cho bệnh nhân và con em của họ ở New York, khi nội chiến nổ ra ở Bosnia kèm theo hoàng loạt vụ hãm hiếp tập thể bà đến từng bệnh viện và xin các nạn nhân đừng phá thai: “Hãy cho ta xin các cháu bé nếu các con không muốn nuôi dạy chúng , ta có đủ tình yêu dành cho tất cả”. Hơn trăm chi nhánh toàn cầu bà đều đến tận nơi để khai trương. Và năm 1993, 1994 mẹ Teresa đã đến Việt Nam 3 lần để xin mở cơ sở ở giáo xứ Thanh Đa nhưng không thành...Xin trích lại lời kể của một giáo dân:

Một buổi chiều đầu tháng 4 năm 1994, tôi (một nữ tu) chuẩn bị kiệu Mình Thánh cho một linh mục bà con là cha Gioan Hồ Hán Thanh, thuộc giáo phận Ban Mê Thuột, bị sưng khớp đầu gối không thể đi lại và rất đau nhức, phải điều trị tại bệnh viện Chợ Rẫy. Ngài nằm chung phòng với một ông đảng viên cộng sản có 40 năm tuổi đảng.

Tôi và một chị nữa đang chuẩn bị đi thì gặp Mẹ Têrêsa và sơ Nirmala đi tắc-xi ghé thăm chúng tôi mà không báo trước. Khi biết chuyện, Mẹ muốn cùng đi thăm cha. Khi tới trước cửa phòng, tôi đã chỉ cho Mẹ biết giường nào là của cha Thanh và giường nào là của ông đảng viên.

Mẹ bước vào phòng, đi thẳng tới giường ông đảng viên thăm hỏi ông, và khi biết ông bị đau tim, Mẹ Têrêsa đã đặt tay lên ngực ông và cầu nguyện vài phút. Rồi Mẹ lấy một ảnh Đức Mẹ Ban Ơn trong giỏ xách tay của Mẹ, hôn ảnh trước khi đưa cho ông đảng viên và nói : “Xin Đức Mẹ Maria chúc lành và ban cho ông mau bình phục”. Sau đó Mẹ mới qua giường cha Thanh, Mẹ cũng đặt tay trên 2 đầu gối của cha và cầu nguyện, và cha Thanh rước Mình Thánh Chúa. Vài ngày sau, tôi tới thăm cha Thanh, điều cảm động và hết sức ngạc nhiên là tôi nhìn thấy ông đảng viên đeo mẫu ảnh Đức Mẹ Ban Ơn trên túi áo ông ấy mặc.

Mẹ chia sẻ với chúng tôi : “Thế giới này đã quá nhiều bom đạn, những thứ đó không thể đem lại hoà bình, hạnh phúc, mà chỉ có tình yêu và lòng thương xót. Hãy bắt đầu bằng một nụ cười, hãy mỉm cười ít là 5 lần mỗi ngày với người mà bạn không muốn cười tí nào ! Xin hãy làm điều đó vì hoà bình ! Ngày nay trên thế giới có quá nhiều đau khổ, rất nhiều ! Những đau khổ về vật chất như  đói, không nhà cửa, bệnh tật … Nhưng tôi vẫn nghĩ rằng đau khổ lớn nhất là cô đơn, bị bỏ rơi, không được ai yêu thương, đó là căn bệnh khủng khiếp nhất mà bất cứ ai đều cảm nhận được”.

 

Không mở được cơ sở ở Việt Nam nhưng Giáo hoàng Paolo II đề nghị mẹ Teresa mở cơ sở tại Vatican, nó hình thành năm 1987 và được gọi là “Quà tặng của mẹ Maria”.

 

Thật kỳ lạ, là mỗi thành viên của Dòng Thừa sai Bác ái theo điều lệ chỉ được có một đôi dép và hai bộ xari, ba cái sơ mi trong một túi vải hay cái giỏ; nhưng đây lại là một pháp nhân với tài sản khổng lồ-mẹ Teresa không từ chối bất cứ đóng góp hảo tâm của ai. Những người thường xuyên đóng góp là công nương Diana, nhà độc tài Haiti, những kẻ chộp giật của phố Wall...Bà từ chối mọi đòi hỏi nộp thuế của nhà nước Ấn Độ, cũng như những đòi trả lại tiền “bẩn” đã được đóng góp, bởi vì bà coi những đống góp thiện nguyện này đã được làm theo ý nguyện của Chúa trời, dù đó là ai và tiền từ đâu ra. Dòng tiền chảy qua đây mỗi năm có dao động từ 10-50 tỷ USD! Tuy vậy nguyên tắc bất di bất dịch vẫn là: các tín đồ Dòng Thừa sai Bác ái không được có tài sản dù chung hay riêng, thậm chí không được dùng những “sản phẩm văn minh” như máy giặt-họ phải giặt tay, như những người nghèo khổ vẫn đang làm...

Bản thân mẹ Teresa chưa bao giờ có tài khoản ngân hàng. Có doanh nhân cứ hỏi bà có visit card không, cái này bà chưa bao giờ có, nên sau khi suy nghĩ khá lâu cuối cùng bà cho in, trên đó có dòng chữ sau:”Kết quả của im lặng là lời cầu nguyện, kết quả của lời cầu nguyện là niềm tin, kết quả của niềm tin là tình yêu, kết quả của tình yêu là phụng sự, kết quả của phụng sự là hòa bình”.

 

Mặc dù cuộc sống của thành viên Dòng Thừa sai Bác ái rất khổ hạnh (nhà cửa cũng phải thật đơn giản, như nhà của người nghèo) nhưng ngày càng nhiều người, cả trai lẫn gái, khắp thế giới muốn xin gia nhập. Khả năng đón nhận thành viên mới thua xa nhu cầu này, thế nên người muốn gia nhập phải “rèn luyện” ít nhất 2 năm, sau đó vẫn khôgn thay đổi ý muốn thì mới được xét kết nạp.

 

Thế ai điều hành Dòng Thừa sai Bác ái? Không phải là mẹ Teresa, mà chính là Chúa, vì theo bà “chỉ có Chúa mới có thể lập nên kế hoạch”. Bà cũng như cả Dòng Thừa sai Bác ái chỉ làm theo đức tin của mình, hoàn toàn chỉ nghĩ đến ngày hôm nay-một niềm tin sắt đá rằng Chúa sẽ chỉ cho họ con đường đúng đắn nhất và không bao giờ bỏ rơi bất cứ một ai có lòng tin...Dòng Thừa sai Bác ái cũng ủng hộ các tù nhân khắp thế giới, nhất là những kẻ bị kết án tử hình. Bà đấu tranh phản đối mọi hình thức bạo lực. Năm 1982 khi trận chiến bao vây Beirut giữa quân đội Izrael và du kích Palestin đang đến lúc cao trào, mẹ Teresa đã đến và đề nghị cả hai bên ngừng bắn, đủ thời gian để bà cứu ra khỏi vùng chiến sự 37 đứa trẻ vô tội đang mắc kẹt. Những ví dụ như thế nhiều lắm. Lời khen ngợi xứng đáng nhất đối với mẹ Teresa do chính Chủ tịch Liên hiệp quốc đưa ra: “Mẹ Teresa chính là Liên hiệp quốc!”.

 

05/9/1997 bà mất đi vì bệnh tim, để lại có 2 áo xari, một bộ Kinh thánh, tràng hạt, mấy quyển nhật ký và mấy chiếc bút chì. Trước đó đã 6 lần trong vòng 1 năm bà phải nằm viện vì bệnh tim rồi, sức khỏe rất yếu nhưng bà không bao giờ dùng thuốc giảm đau, bởi vì “đau đớn chính là món quà dâng lên Thượng đế” và bà chỉ muốn các bác sỹ cho chết một cách bình thường, thanh thản.

 

Chắc là bà sẽ không hài lòng nếu biết Ấn Độ tổ chức quốc tang trang trọng nhất cho bà, trong dòng người 7km đi sau linh cữu đó có 12 nữ tu đã bắt đầu Dòng Thừa sai Bác ái với mẹ Teresa năm 1950.

 

Giáo hoàng Pablo II vừa khóc vừa tuyên bố rằng để phong thánh cho mẹ Teresa theo nguyên tắc của Vatican cần ít nhất 5 năm để xem xét-vì điều này mà Giáo hội bị chỉ trích rất nhiều bởi ngay chính các tín đồ của mình, vì đối với rất nhiều ngườ trên thế giới thì mẹ Teresa từ lâu đã là một vị thánh sống!

 

Để “xem xét” điều này Vatican cho người nghiên cứu kỹ lưỡng tất cả các bút tích của mẹ Teresa, và đã phát hiện ra thử thách khắc nghiệt nhất mà mẹ Teresa đã phải chịu. Sau khi đã lập ra Dòng Thừa sai Bác ái thì cả Thượng đế và Ác quỷ đã tranh dành nhau để chiếm đoạt linh hồn của bà như tranh đấu vì một tài sản quý giá. Satan đã quyến rũ bà bằng mọi thủ đoạn có thể, và có lúc đã chiếm đoạt được linh hồn của bà. Tuy vậy sau các lễ trừ tà (bà phải nhờ những Hồng y giáo chủ làm cho mình) thì Hầu tước bóng đêm đã phải nhường lại bà cho Đức Chúa. Bà được Chúa ban thưởng cho nhiều tài năng khác nhau, bà đã trở thành một vị thánh sống, Chúa thường hay hiện hình về trong các giấc mơ của bà, thậm chí bà đã ghi lại được những câu chuyện giữa Ngài và bà. Nhưng cũng như các vị thánh sống trong lịch sử, bà đã chịu một thử thách lớn hơn nữa, đó là trở thành “đêm tối của tâm hồn” hay “đêm đen của xúc cảm”. Đó là khi chính bà hoài nghi ở Chúa, nghĩ rằng Chúa có hay không, hay là Ngài đã bỏ rơi các con chiên, bà có xứng đáng để thờ phụng Chúa hay không, niềm tin vào con đường phụng sự người nghèo bị lung lay...Theo truyền thống đạo thiên chúa thì đó chính là bậc cao nhất của sự thánh thiện, và đó là một trong những điều kiện cần để phong thánh. Điều kiện bắt buộc nữa là mẹ Teresa phải có một hành động mang tính chất “phép màu nhiệm của Chúa”-thì cái này có cả một danh sách dài...Đức Giáo hoàng Juan PabloII cũng đã già, và rất muốn được phong thánh sớm cho mẹ Teresa nên đã cho phép đăng những dòng nhật ký chưa ai đọc trước kia này lên “Time”, sau đó là ở “ Famiglia Cristiana”  trong mục “Những bí mật của mẹ Teresa” –mọi hoài nghi của mẹ Teresa cuối cùng đã bị xóa đi bởi lòng tin vô cùng mãnh liệt của bà vào Chúa-Người đã hiện lên cho bà chứng kiến từ lúc lên năm tuổi...Và thế là năm 2003 mẹ Teresa được Giáo hội phong thánh.

 

Mẹ Teresa nhận được vô số giải thưởng, danh hiệu, trong đó có Nobel vì hòa bình năm 1979. Bà đến nhận vẫn trong chiếc áo xari trắng ngày nào, đọc một bài diễn văn rất đáng xem để phản đối nạn phá thai, từ chối dự bữa tiệc vì “không thể xài phí được trong khi trên thế giới còn nhiều trẻ em đói khổ đến như vậy”. Bà nhận đủ 190000$ tiền thưởng cho Dòng Thừa sai Bác ái, kiên quyết không trả cho chính phủ Ấn Độ 80% như bị đòi chia chác...

 

Bà để lại rất nhiều câu nói, đoạn văn, lời cầu khấn rất hay và thường xuyên được trích dẫn, đến mức có nhiều câu bị gán nhầm cho là của bà, ví dụ “Người ta sẽ quên điều tốt đẹp ta làm cho họ vào ngày mai, tuy thế hãy vẫn làm điều tốt đẹp...”là không phải do bà nói. Nhưng câu “Loại thuốc tốt nhất đó là tình yêu và sự quan tâm” thì chắc chắn là của Mẹ Teresa.

(St)

Ý kiến không được cho phép