NGƯỜI VIỄN ĐÔNG

Nơi chia sẻ và lưu giữ các bài viết của Nam Nguyen

C156 – NĂM ĐẦU LÍNH CẬU

 (câu chuyện vào đời quân ngũ của tôi)

 

(Nhân dịp họp mặt C156 kỷ niệm 35 năm vào lính 7/2015 tại Đà Nẵng)

Kính thưa các phụ huynh, các cựu thủ trưởng, giáo viên và các đồng đội yêu quý, đây là câu chuyện đời quân ngũ của tôi, cũng na ná giống với câu chuyện của rất nhiều người hôm nay có mặt ở đây, xin nhắc lại để cùng nhau nhớ về một thời đáng nhớ.

Cuối tháng 8/1980 chúng tôi lên Trường KTQS ở Vĩnh Yên để nhập học, trước đó đã được khám lại sức khỏe và phát quần áo ở 23 Phân Bội Châu. Mấy ông bác sỹ đã khám chúng tôi từ trước khi thi đại học vẫn nhận ra: ‘Thằng này hắc lào cả đám, hỏi thì nó bảo bơi hồ Tây nhiều, thế mà cũng đỗ đi Tây cơ à?”. Kể ra hồi đó được “đi tây” thì chưa biết thế nào, nhưng bản thân cũng thấy thích thích, bố mẹ thì khỏi nói là tự hào phấn khởi thế nào. Chỉ hơi ấy náy, là lũ bạn học cùng nhưng hơn tuổi, trước đây đến lượt đi nghĩa vụ thì cả lớp đi tiễn đến tận nơi tập kết, chị em còn tặng này tặng nọ, tập thơ hay mùi soa thêu đôi chim...thế mà đến lượt mình thì lủi thủi ra ga Hàng Cỏ một mình, cũng may có cả lũ bạn phổ thông nên đỡ buồn. Có nhiều phụ huynh chu đáo tiễn tận toa tàu, mẹ Lê Đức Tiến còn cứ thò dưới sân ga qua cửa sổ, nài nỉ bọn tôi: “cháu con nhà bác yếu lắm, đổi chỗ cho nó ngồi thuận chiều tàu chạy không là nó chóng mặt nôn hết đấy!’ - mà nó có yếu gì đâu, to béo nhất bọn hồi ấy! Xình xịch cả nửa ngày trời mới lên đến nơi, tìm ra trường không khó, thế là nhập học! Thủ trưởng phụ trách lúc đó là trung úy Mừng, tác phong dứt khoát lắm, lùa bọn học sinh phổ thông chúng tôi như vịt, có các anh lính cũ thì được sếp còn nương tay hơn. Lần đầu tiên được ăn cơm “đại táo” - lạ lẫm lắm nhưng đứa nào cũng thấy ngon hơn ở nhà, chắc là đi nhiều thì đói!


Chia tạm đơn vị, làm quen với từ “học viên” - cái bọn quân hàm có mỗi một gạch vàng ấy, chưa nghe bao giờ - được biết là đại đội thì gọi là C, của bọn mình là 156, mãi mới được giải thích là “các cậu là đại đội đít 6, là các vì sao đất nước, “почему страны”, sau này đi Tây về thì đừng có phụ công quân đội...”. Cũng may được các anh lính “già” và mấy ông tướng con con mấy ông tá to giải thích như vậy! Tiểu đội tôi thì Lê Mạnh Hải là A trưởng, Trụ là A phó, A2 a Thuần là A Trưởng...có Quang “cận” lính phổ thông, nhưng mặt nó dừ hơn cả cá anh lính cũ, bọn tôi cứ xưng ‘em” với nó mà nó cứ để yên, láo thế chứ! Mấy hôm học chính trị, tình hình địch - ta, đất nước khó khăn nhưng vẫn quyết tâm lo cho các cậu, sau này thủ đô chuyển lên gần Tam Đảo, trường ta đã có cơ sở khang trang trên này rồi, các cậu về nước là đầu ngành hết cả lượt đấy... Rồi một hôm cả đại đội được đi tham quan thủ đô mới, đi bộ trời nắng cũng độ 6 - 7 km thì ra đến một khu mới xây dựng, ba bốn cái nhà 5 tầng, trông đẹp và lạ, nhưng chưa được vào xem và chưa có điện nước, nhưng học viên cũng thầm tự hào về tầm tư duy chiến lược của tướng Đặng Quốc Bảo “nhà mình”.

Được vài hôm rồi lại được “thả” về nhà để chào gia đình và chuẩn bị vào “cơ sở 2” - chúng tôi đã biết sẽ học dự bị trong Sài Gòn. Thế là lại cùng nhau ra Hương Canh, biết được chuyện nhảy tàu lần đầu tiên vì không có vé may mà cũng không sao. Đến hôm lên tàu, cả 156 cả mấy đại đội khác vào học trong nước nhưng ở cơ sở 2, chúng tôi biết cũng chỉ đi vào Sài Gòn mấy tháng thôi, nhưng có nhà đi tiễn cả gia đình, như nhà tay Trụ cùng tiểu đội, mang cả em gái lít nhít ra tiễn anh. Cũng có vài anh lính cũ có mấy cô ra tiễn bịn rịn lắm, chả biết vợ hay người yêu, còn mình lại tự ra ga. Được cái người nhà đi tàu Thống Nhất rồi, cho một lời khuyên “đi hai - ba ngày dài mà đi vệ sinh khổ lắm, hạn chế được thì tốt...” - thế là tự làm nắm búp ổi nhai, yên tâm 3 ngày ăn thoải mái không cần đi nặng...

 Chắc các anh, các bạn đều còn nhớ chuyến tàu “định mệnh” đó? Chậm, chật chội, nóng, bụi, nhưng được cái an toàn (cả toa toàn bộ đội, làm gì có kẻ cắp nào dám bén mảng?) và vui cực. Tàu chậm thì càng ăn uống được nhiều, ấn tượng nhất với tôi là bát bún bò Huế cay khủng khiếp ở chính quê mình mà bây giờ mới được đặt chân, và chuyện “tàu chạy ngược” khi vào ga ở Đà Nẵng, rồi ga “Gà” huyền thoại. Mỗi người được phát lương khô, và một hộp sữa đã quá đát 1,5 năm méo mó dúm dó, chúng tôi bàn nhau bán một phần thôi, còn lại để một hộp ăn với bánh mỳ xem như thế nào - sữa vàng khè như mùi cơm cháy, quánh đến mức dai như cao su - nhưng ăn được, không thấy ai bị làm sao! Và ấn tượng nhất là đoạn miền Trung tàu chạy dọc biển, chưa bao giờ thấy tổ quốc đẹp thế này...

Đã được các thủ trưởng nhắc nhở là vào đến trong Nam tình hình “phức tạp” nên sau 3 ngày ròng rã, buổi sáng đến ga Bình Triệu nắng chói chang, lên xe tải chở về cơ sở mà chúng tôi cũng khá “choáng” vì cái tiếng ồn xung quanh, ở Hà Nội có ra chợ Giời đứng cũng chưa bao giờ thấy ồn như thế! Và cũng chưa bao giờ thấy nhiều ô tô, xe máy như thế, mà cũng mới nghe người trong này gọi là “xe hơi”, “Hông-đa” chứ chả gọi như ngoài Bắc. Qua hết thành phố thì đến sân bay, cổng gác Phi Long thấy quân cảnh còn nghiên hơn cả ở trường Vĩnh Yên, mấy đứa cũng kịp thấy hai quả cầu trắng to tướng thấy bảo là để điểu khiển không lưu. Xe tải lại chạy thêm một đoạn nữa thấy qua một cổng gác nữa, lệnh xuống xe vì đã đến nơi, cơ sở 2 đây rồi!


Cảnh tượng đập ngay vào mắt là mấy khóa năm trước đang ngồi trong lớp học nhìn ra mấy xe lính mới, nhìn bao quát xung quanh một lượt thì toàn nhà 2 tầng, thấy bảo từ thời Mỹ nhưng để ở còn tốt chán! Việc đầu tiên là lũ chúng tôi vứt đồ đạc, tranh nhau đi tắm, chỗ tắm hàng chục vòi, tốt hơn ngoài Bắc nhiều, thế mà vẫn không đủ chỗ, sau mấy ngày quần áo đứa nào cũng cứng như mo nang. Và bữa ăn đầu tiên ở nhà ăn cũng rất ấn tượng, chả phải ăn độn như ngoài Bắc...

Chúng tôi bắt đầu nói từ “thủ trưởng”, “đồng chí” gãy gọn không ngượng mồm nữa rồi, chứ có những đứa lúc lên Vĩnh Yên chào cấp trên bằng “chú”. Vào đây chúng tôi mới làm quen với đại đội trưởng Dực. Ông to béo, khá nhiều tuổi, cảm tưởng rất nghiêm nhưng hóa ra khá xuề xòa dễ gần, và hóa ra ông đã có kinh nghiệm nhiều năm quản bọn “đi tây” này rồi! Rất nhanh chóng chúng tôi “đọc vị” được thủ trưởng, đối với ông chỉ có hai loại lính được ưu tiên hơn chút xíu, đó là bọn trẻ học khá, và đồng hương Hải Phòng, một số ít được cả hai yếu tố thì được ông thương như con cháu. Các A, B phân lại khá nhiều, tôi vẫn ở yên chỗ nhưng anh Cường A trưởng chuyển đi mất, nói chung B1 chúng tôi còn ít lính già, có B trưởng Châu, B phó Quang và các anh Hoài, Thuận. Biết được xong đơn vị thế nào, tôi viết thư báo ngay cho bà con họ hàng ở Sài Gòn, mấy hôm sau thấy trực ban gọi lên phòng thủ trưởng đại đội, thủ trưởng Mừng đang cầm cái thư đề tên người nhận là tôi, nghiêm khắc cảnh cáo: “Đồng chí sai lầm rất nghiêm trọng, ai lại làm lộ bí mật quân sự thế này, địch biết là chết! Đời thủa nhà ai lại đề đầy đủ A1 - B1 - C156 - tiểu đoàn bồi dưỡng - cơ sở 2 - Trường ĐHKTQS...”. Tôi toát mồ hôi hột, cứ nghĩ ngày mai bọn phản động quanh đây đánh bom vào cơ sở, tội này mình ra tòa án binh như chơi! Mà nào có được ai hướng dẫn về hòm thư đâu...

B tôi nhiều lính trẻ, bắt quen nhanh lắm, có dịp tôi mò sang 3 B còn lại để chơi với các anh lính già - hồi đó đối với chúng tôi các anh hơn 5 - 7 tuổi là hơn cả hai ba thế hệ rồi, kinh nghiệm đầy mình, cứ như cái gì trong bộ đội cũng biết ấy. Mà các anh cũng biết nhau gần hết thì phải, hóa ra trước khi thi các bác ấy được về ôn thi ở trường văn hóa quân khu mấy tháng! Đầu tiên là các bác ấy chỉ cho cách gấp chăn màn vuông thành sắc cạnh, rồi những cái đầu 3 phân đầu tiên cũng do các anh lớn ấy cắt, sau này chúng tôi thấy Doãn Thế Phương có mang theo cái kéo, mới liều lôi nhau ra cắt bừa...Mấy anh hay chuyện trò với bọn trẻ chúng tôi nhất là anh Hài, Minh, Hoành, Giàu, Sắc...Có một anh lính cũ duy nhất đã “xuất ngoại” là anh Đường Văn Hà quê Hà Tĩnh, lính trẻ chúng tôi hay quây anh ấy bắt kể chuyện mấy tháng đi Nam Tư đầy ấn tượng và vừa nghe vừa cố tưởng tượng sau này mình “đi Tây” sẽ thế nào...


Việc học được bắt đầu ngay, sau hôm được đi bộ tham quan khu trung tâm máy tính của sân bay do Mỹ ngụy để lại, ấn tượng là rất to và điều hòa lạnh toát, chứ máy tính có thấy chạy đâu, hồi đó cứ đồn bọn Mỹ trước khi đi khóa lại, ta mở mãi không được...Chủ yếu Toán và Nga văn, tôi được học các thày Toán là thày Hà, Viên, Định và Nga là thày Lĩnh, cô Minh, bà Tamara. Các thày cô ở ngoài Hoàng Văn Thụ, đến tiết thì mới vào dạy, hồi đó cũng chả để ý họ đi bằng gì, chắc xe đạp thôi, may mà không xa, nhưng chúng tôi thì đi trăm mét đã ra dãy nhà ngang một tầng là lớp học. Các thầy cô đều rất giỏi chuyên môn và chuyên tâm dạy, bọn chúng tôi cảm nhận được trong những câu nói của thầy Định có ý nói là các cậu cứ học hành cho cẩn thận, chưa biết ai giỏi hơn ai đâu, bọn ở nhà cũng nhiều đứa giỏi lắm đấy...Sau này mới biết chính thầy học giỏi nhưng nhà tư sản phố Hàng Gai, có vấn đề nên phải học trong nước, có sự bất mãn nhất định, nhưng thày vẫn dạy rất hay! Hai thày “đi Tây” sau này dạy toán bằng tiếng Nga thì đều gày gò nhỏ bé cả, bọn tôi cứ đùa thầy Định ở nhà thế mà sướng, to béo thế kia chứ sang Tây nó bắt học nhiều rạc người!

Tiếng Nga đối với học sinh phổ thông chúng tôi không quá khó, nhưng đối với các anh lính cũ cũng là cơn “ác mộng” - vì ở trường văn hóa có ôn môn này đâu! Nhưng các bác ấy “cày” kiên cường lắm, thế nên chả mấy chốc lính cũ với mới trình độ cũng không khác biệt mấy. Thầy Lĩnh trông chả khác gì cụ Phạm Văn Đồng, tuy giọng Quảng nhưng đọc tiếng Nga rất rõ ràng. Cô giáo Minh xinh và trẻ thế, lại hay được phân công dạy mấy anh lính già, chả biết cô có xao xuyến không nhưng tôi “nghe lỏm” các anh ấy thấy nhiều chàng xao xuyến lắm!

Đến giờ vẫn nhớ bà Liudmila, thực ra bà chỉ là vợ chuyên gia sang Việt Nam, không chuyên về ngôn ngữ nhưng dạy rất nhiệt tình và khá bài bản. Người phụ nữ Odessa phúc hậu này đã dạy chúng tôi bài dân ca Nga đầu tiên “Миленький ты мой...» và trò chơi ném bóng của bọn trẻ con Nga lít nhít “я бросаю, я ловлю...». Mấy ngày đầu đại đội còn bật băng tiếng Nga qua hệ thống âm thanh đến từng phòng, nhưng sau bỏ ngay, chắc thấy không có tính giáo dục? Sau này chúng tôi mới biết tuy phải xa nhà nhưng về điều kiện học hành, ăn ở chúng tôi được tạo điều kiện tốt hơn quân “chú Tứ” ở Thanh Xuân nhiều...

Gì thì gì chứ đây vẫn là doanh trại, và kỷ luật quả là khá nghiêm, nhất là đối với bọn mới hết phổ thông như lũ chúng tôi. Đại đội phó Mừng được rèn luyện qua lục quân, nên vào đến Tân Sơn Nhất phát huy hết sở học của mình. Việc chăn màn sáng nào cũng kiểm tra đã đành, tôi là đứa hay bị bêu danh nhất vì hôm gấp vuông, hôm lại vẹo, chả biết làm sao...tự kiểm thì còn được tiểu đội trưởng Lê Mạnh Hải có hôm châm chước, chứ hôm nào thủ trưởng Mừng với trực ban đi kiểm tra thì lộ ngay! 5 giờ toét còi là bật dậy ngay - thực ra bộ đội thế là thường, nhưng đối với chúng tôi nửa phút lúc đó sao cũng quý lắm! Thủ trưởng Mừng có biệt tài thuộc tên họ đầy đủ của lính rất nhanh và chính xác, ví dụ tên tôi hay tên ông bạn lười “Nguyễn Trung Thành”bao giờ thủ trưởng cũng đọc hết cả họ-tên đệm-tên, và phải nói là anh thực sự năng nổ, chỗ nào cũng có mặt. Ngoài chuyện đi ăn, đi học xếp hàng vừa đi vừa hát là thường xuyên thì các buổi tập đội ngũ cũng rất đều đặn. Đầu tiên là kiểm tra xem “10 lời thề quân nhân” có thuộc không, quần áo tóc tai có đúng điều lệnh không, mặt mũi phải nghiêm trang, “quân dung tươi tỉnh” chưa? Rồi mới đến “mốt - hai - mốt”. Tưởng chừng đơn giản nhưng bạn Trường Sơn cao quá nên hay lóng ngóng, cứ bị cùng chân cùng tay, Dương Bình thì dáng đẹp nên đứng nghiêm đã khó. Tập đi, tập đứng, tập quay trên mặt đường nhựa giữa trưa nắng Sài Gòn quả là vất vả, nhưng sau này sang “Tây” bị rèn nữa, rèn mãi thì mới hiểu ý nghĩa của cái sự nghiêm, nghỉ, đi đều...trong 156. Lại còn chạy 3 km “một – hai” buổi sáng trong tuần hoặc lúc chiều trước bữa tối, lúc còn chưa ăn gì, đói lắm, thế mà ai cũng chạy được cả, tôi chạy nhanh phết và thời gian cứ tốt dần lên, hồi đó ngoài đồng hồ của anh Mừng thì chỉ thấy có Mai Tuấn Anh và anh Quế có đồng hồ để xem giờ. Khó nhất đối với tôi là vác súng nhảy qua tường, trày da tróc vảy mà khi tập thì còn một lần qua được, khi kiểm tra thật thì lại phải nhảy lại, cơ khổ... Khổ và mệt, mấy đứa lính trẻ chúng tôi cứ kêu ồi ồi, nhưng sau này nghĩ lại phải cám ơn thủ trưởng Mừng, không có ông thì có những đứa trong bọn tôi sẽ hoàn toàn là “lính cậu” - tức là chả biết gì về quân đội!

Trước Tết cơ sở tổ chức đi gặt lúa ở Hậu Giang, trước khi đi đại đội phổ biến là tình hình phức tạp, các cậu có nghe thấy tiếng súng đì đùng ở biên giới vọng về không, có bọn phản động ngồi sẵn ở đó đấy, mà Hậu Giang gần biên giới lắm, đi thì đi nhưng phải bí mật, cảnh giác! Quả là một chuyến đi đáng nhớ, được qua phà ở những nhánh sông Mê Kông mênh mông nước, được đắm mình trong kênh rạch đục ngầu phù sa của miền Tây, được biết thế nào là thiên nhiên trù phú và nỗi nhọc nhằn gặt lúa - các anh lính cũ thì còn có người biết gặt, chứ bọn phổ thông thì năm thằng cũng chả bằng một thợ gặt! Nhưng sướng nhất là được thoát khỏi cảnh “ngăn sông cấm chợ” lúc đó, lúa gạo ăn thoải mái, cá tự mò tự bắt mà ăn, cớm tự lo mà nấu...mệt đến mấy thì vẫn vui! Về đến Sài Gòn nhiều đứa vẫn tiếc là đi gặt có mấy hôm, kể ra đi cả tháng thì sướng! Xin chép ra đây bài thơ của một “почему» cùng trung đội:

 

GẶT LÚA Ở HẬU GIANG

Dậy, dậy đi, chuẩn bị làm

Trời đã sáng bạch rồi, sáng bạch

Chớ có nằm dài lại miên man

Liềm, mũ, mau ra ngay, tập hợp.

Lần đầu tiên phần lớn chúng tôi

Lần đầu tiên cầm liềm đi gặt lúa

Lần đầu tiên dưới ánh nắng mặt trời

Thân hình phơi mà điệu đi như múa

Hãy lắng nghe tiếng liềm ăn sột soạt

Gặt lúa ít mà xén tay thì nhiều

Hãy lắng nghe tiếng da khô bỏng rát

Gặt nửa ngày mà chẳng được bao nhiêu

Ôi đau lưng, ôi mắt vàng hoa cải

Ôi máu tay chảy, ôi đau chân

Không làm được, anh cho em nghỉ với

Nhìn đích vời xa, Bê trưởng b���n thần

Cái cọc đích tý teo nhỏ bé

Vẫy phất phơ tàu lá cháy khô

Chỉ là cây mía con mới bẻ

Mà mệt cả Bê chứ chẳng vừa

Nó tuy bé nhưng mà xa, xa lắc

Nếu ở gần thì nhổ quách cho xong

Cứ nhìn nó lại là muốn khóc

Thấy tương lai ôi mù mịt, mông lung

Làm càng nhiều càng mau cáu kỉnh

Mệt càng nhiều càng ít nói hơn

Và cứ thế hì hục làm khinh khỉnh

Cái liềm vung bóng lúa chập chờn.

Người khỏe thì gặt hộ bên cạnh

Người mệt thì ngồi gặt cũng xong

Mệt quá thì nằm tỉa từng nhánh

Thấy cảnh buồn cười có khổ không.

Thế rồi gặt xong cũng vừa tối

Nhặt cây cọc đích vứt tung đi

Gió lùa vô phổi luồng sảng khoái

Nằm lăn ra lúa muốn ngủ khì

Vùng dậy, kêu lên ta đi tắm

Áo quần bụi bặm ào xuống sông

Làn da mát rượi hòa xanh thẳm

Người bỗng tan vào giữa mênh mông.

Chú cá nghịch tinh sao đớp ta

Chớ vẫy làm chi cho rầy rà

Vào canh để ngọt thơm mùi cá

Tính tớ ăn cơm thích đậm đà.

Về bưng bát cơm thơm bốc khói

Ngắm cảnh hoàng hôn buông trên đồng

Nhìn bao đống lúa vừa gặt tới

Đích ở xa vời, có thích không.

(Tuấn Khọm- A2 B1 Hậu Giang, mùa gặt năm 1981).

 

Về đến nơi, sắp Tết thì C được bổ sung thêm 2 B nữa, quân số lến đến gần 200, lại thêm một đống bạn phổ thông, chưa kể mấy bác lính cũ như anh Long, anh Hải huân huy chương đeo đầy ngực, ấn tượng!

Thêm người thế này là tình hình tăng gia trồng rau căng thẳng hẳn lên. Trước có 4 B mà đất đã ít, nay lại có 6 B, càng ít, thế thì càng phải dùng “công nghệ cao” tức là săn bằng được phân bắc, nước giải. Cây rau dền của A chúng tôi cao hơn 2 m, có vẻ kỷ lục đấy, nhưng lúc nào đi cân rau chúng tôi cũng nhẹ hơn các bác lính cũ, sau này chúng tôi nghĩ lại, hay là vì mình cứ tham nuôi cái cây kỷ lục ấy mà để nó át hết các cây xung quanh? Hồi đó đứa nào được xuống bếp làm giúp các chị nuôi là hay tranh nhau ăn cháy lắm, đói quá mà, chúng tôi bị trung đội trưởng Châu xạc một trận nhớ đời...

Lại nói chuyện nhà ăn, hồi đó thiếu nước mắm nên chỉ có loại nước đường cháy pha muối màu nâu đỏ, để chấm với rau dền, và một món gì đó nữa, nước rau dền cũng đỏ ối luôn (thấy bảo nhiều sắt, bổ máu mà đứa nào cũng gày?) Gạo thì khá ngon, hình như cũng mang Tiền Giang về là chính, nhưng đối với cả lũ “bẻ gãy sừng trâu” như chúng tôi thì hơn hai bát cơm chẳng thấm vào đâu. Trước nhà ăn là một đoạn ao thả cá tra, ai chả biết chúng ăn cái gì, có ai ngờ một phần tư thế kỷ sau nó lại thành mặt hàng mũi nhọn để xuất khẩu cơ chứ! Cả năm học hình như tát ao được hai lần, đói lắm! Hồi đó tôi chúng tôi ăn nhanh lắm, các tiểu đội đến sau chưa ngồi nóng chỗ thì chúng tôi đã đứng lên rồi, cũng may còn biết nhường nhau, và Vũ Quốc Trụ không biết ăn thịt mỡ nên thi thoảng anh em cũng được thêm miếng tóp. Có ngày chủ nhật ai không đến lượt ra ngoài thành phố thì được ăn bún, cũng vẫn với cái nước mắm tự chế biến ấy, thế là ngon rồi...Cả năm học được mấy ngày ăn ngon: 2/9 (chưa vào đến nơi), ngày quân đội, ngày Tết Tây, Tết ta, 30/4 thì thịnh soạn hơn, hình như có giò thủ và thịt rang, còn thì quanh năm vẫn một menu. Chúng tôi có sang “ngó trộm” cơm của các thủ trưởng, ngay đến cơm của thiếu tá Quang cũng đạm bạc lắm...

Đời lính cũng lắm niềm vui nho nhỏ. Có em Mai thư viện xinh xắn thì các anh lính già anh nào cũng đong đưa, không đến lượt mấy thằng em. Một lần được xem phim “Ba hạt dẻ dành cho Lọ Lem” thì tên phim viết bằng phấn trên bảng gần nhà ăn có đứa nào chữa thành “Ba hạt dẻ dành cho chị em” - cả cơ sở cười đến tối mới bị xóa đi. Hồi đó tối thứ bảy ra “Tám Mái” (câu lạc bộ sỹ quan cũ) là niềm vui sau cả tuần học hành huấn luyện mệt mỏi - cà phê chúng tôi còn chả biết uống, cứ kem que mà ăn, mỗi đứa một mũ cối đầy kem, đến bây giờ nhớ lại vẫn thấy ngon và ...sợ! Kem toàn đá với đường thôi, mình ăn được 23 chiếc thì lạnh run rẩy trong bụng, nói chung trên dưới 20 chiếc thì nhiều đứa ăn được, kỷ lục chắc thuộc về Minh “đen” Nghệ An, hắn ăn 30 chiếc thì thôi vì ...hết tiền.

Nói đến Minh “đen” lại nhớ đến bóng chuyền và thủ trưởng Dực. Nó vào sau gần một tháng, thấy bảo có xin phép trường ở nhà gặt lúa cho mẹ đã. Nó to cao, đầy tố chất thể thao nên lập tức được anh Mừng lôi ra cho tập đập bóng chuyền - anh Mừng đánh bóng chuyền cũng bài bản lắm! Tập vài hôm là anh Dực tổ chức cho B1 chúng tôi đấu với B4 thì phải, toàn các anh lính cũ, nhất là anh Hoành nhảy đập như chuyên nghiệp. Bên tôi chỉ có Minh là nhảy cao, Huệ Nghệ An biết chuyền hai một tý, còn lại toàn thằng lớ ngớ chỉ biết đệm bóng hai tay thôi, được cái hò hét cổ vũ thì to mồm nhất! Thủ trưởng Dực thấy bọn tôi kém lại hay phạm lỗi chạm lưới, nên giao luật: cho chúng mày đánh chạm lưới tha hồ, thế là chúng tôi cứ nhảy lên như choi choi gần lưới, chạm thoải mái, còn các anh lớn thì chưa bao giờ chơi với động tác “cùn” như thế, có phần mất bình tĩnh. Thủ trưởng Dực thì đứng trên tầng hai, lôi cái nắp thùng nước ra làm chiêng, gõ để cổ vũ cho đội trẻ, cuối cùng đội già thua thật! Mấy anh già không thèm chấp, nhưng cũng giận mấy thằng em cả tuần...

Chuyện thể thao thì cũng nhiều lắm, khi có thêm 2 B vào thì chật chỗ bóng bàn với đá bóng đường nhựa, 156 thấy đủ lông cánh rồi nên tham gia đá giải cơ sở 2 với 414, 415 và khối cơ sở. Tôi chỉ được đá chân dự bị, chứ hồi ấy đội hình mạnh lắm: anh Châu trung phong, anh Hoành, anh Long đá giữa, bọn trẻ có Hiền “đen” Hải Phòng chuyên rê dắt, Vũ chạy cánh như chuyên nghiệp, Kiên “lùn” tay chặt chém có hạng ở hàng dưới...Đều các tuyến thế mà hình như 156 chỉ được giải ba, nghe kể sang năm một số rơi rớt lại cùng với các em 166 lúc đó mới vô địch được! Về thể thao thì phải nói đến anh Hoàng miền Nam - đẩy tạ rất khỏe, và Sơn “Thái Bình” - vô địch nhảy cao và nhảy xa toàn cơ sở 2, kỷ lục nếu không nhầm lúc đó là 1,65m nhảy cao. Chạy 100m thì không nhớ ai nhất, nhưng có Tuấn “khọm” trông lụ khụ mà chạy rất nhânh, tầm 12 giây 5 thôi!

Ngày chủ nhật là ngày nghỉ duy nhất, trung bình cứ 3 tuần mới được ra ngoài một lần chưa kể những hôm cấm trại, nên học viên ở lại doanh trại cũng đông lắm, “ở nhà” loanh quanh đã đến 5 giờ chiều, xem bạn bè mang được đồ ăn gì về thì lôi ra đánh chén. Đến lúc sắp “đi Tây” rồi còn có anh em đại đội mình nhảy rào đi mua kem, bị ngã gãy chân, khổ thế đấy (sau này nghĩ lại, mới thấy mình ngu ngơ, nhỡ người ta đi tình yêu tình báo, bị ngã thì phải khai đi ăn kem chứ sao?). Nhà mình rất đông họ hàng trong Nam, nên thường ra đến cổng Phi Long đã được đón đi rồi, không biết thế nào là Lăng Cha Cả ngay gần đấy, thấy thủ trưởng đại đội phổ biến là “rất phức tạp”, “xung quanh sân bay toàn là các gia đình trung thành với ngụy quyền nên hết sức cẩn thận...”. Thực ra bây giờ nhớ lại thì thấy dân Sài Gòn những năm 80 – 81 còn sợ bộ đội lắm, thấy chúng tôi giọng Bắc mà quân hàm chẳng giống ai thì họ còn sợ mình hơn ấy chứ. Còn bà con Sài Gòn tuy đang lúc cũng phải ăn bo bo nhưng thương “thằng bộ đội” nên ai cũng cho tiền, cho nếm mỗi món một lần, chả kịp tiêu đâm ra ứ đọng tiền mặt khủng khiếp...

Lại nói về xung quanh cơ sở, đúng là không xa nhà dân lắm, thấy được ánh đèn, nghe được tiếng trẻ em khóc...nhất là những lúc đi gác “chuồng bò” đên khuya, cũng rợn hết cả tóc gáy, lúc nào cũng có cảm giác như biệt kích đang bò đến gần, tỉnh cả ngủ. Gác cổng cơ sở cũng sợ, gác nhà ăn, nhà bếp thì yên tâm, lim dim tý cũng được, có hôm cả đứa gác, cả đứa phải thay ca ngủ quên thế là thành gác thông luôn. Xung quanh sân bay có bãi mìn từ thời ngụy, đúng là chưa tháo dỡ thật, có lần thấy nổ chết con bò, bò của cơ sở thả lang thang gần đó, thế là có bữa thịt tươi cho đơn vị (nhưng không hiểu ai vào kéo xác con bè này ra nhỉ). Ngày nay sân bay thu nhỏ lại, có những bạn 156 ngày xưa đang sống trên chính khu đất chúng ta đã học hành, tập tành ngày ấy, ví dụ như bác Phạm Hồng Dũng...

Phải nói là chuyện hát ở 156 đã thành chuyện quá thường ngày, đến mức mấy anh bạn 415 cứ hỏi: “sao chúng mày hát lắm bài thế?”. Đi ăn, đi học thì hát «Vừng đông đã hửng sáng», rồi tiếng Nga «Не плачь девчонка», sinh hoạt thì hát «День победы», «Ленин всегда с тобой», thậm chí «Партия - наш рулевой»... đến khi sang Nga cũng thuộc được gần 20 bài làm bọn khoa ngoại quốc cũng khá ngạc nhiên vì dân Việt. Sinh hoạt văn nghệ thì luôn phải có giọng ca của anh Bùi Hữu Cư B3 - anh hát vào loại văn công chuyên nghiệp rồi, những bài như «Здравствуй мама» anh hát rất hay! Đến khi quân Vĩnh Yên vào nữa thì có thêm bạn Quốc hát cũng rất hay, anh Giàu người miền Nam có giọng ca vọng cổ ngọt ngào, anh Tâm B2, anh Khắc Hùng B6 guitar...Hồi đầu tiên còn có dàn trống để trên nhà đại đội, Khôi “trống” B2 được lên gõ loạn xà ngầu, anh em nghe cũng vui tai giữa đời lính lại nghe trống phách ầm ĩ, được mấy hôm thì bị dọn đi mất, chắc là cơ sở thu lại.

Ngoài học văn hóa, học bắn súng thì chuyện học chính trị là thường xuyên, thường là cả đại đội tập trung họp ngoài sân, nhưng cũng có lần tập trung ra hội trường chính nghe thủ trưởng Tiên xuống đả thông tư tưởng và phổ biến tình hình nhiệm vụ mất 2 buổi. Vui nhất là có lần bầu cử, mình học sớm nên mới 16 sang tuổi 17, thế mà cũng có phiếu bầu và đi bầu, đến giờ cũng chả biết có đúng pháp luật không nữa, nhưng các thủ trưởng bảo nhiệm vụ đấy, bầu đi!

Cuối cùng rồi cũng đến mùa thi kiểm tra và phân chia ngành nghề. Trước đó bác sỹ nữ tên Thành lại từ ngoài Bắc vào khám sức khỏe cho cả C, riêng tôi thì năm ấy từ 53 kg tăng lên được 54,5 kg, chiều cao y nguyên như bây giờ là 1m76, hắc lào đã hết nhưng dấu vết thì phải nhiều năm sau mới hết (cũng là trùng hợp thú vị, khi sang đến Nga thì đơn vị trưởng dẫn chúng tôi đi khám sức khỏe lại chính là anh chồng của bác sỹ Thành).

Thế rồi cũng thi, cũng chờ Cục cán bộ phân ngành, phân nước, phân trường. Nhiều người chỉ vì lý do sức khỏe rất đáng tiếc cũng không đủ điều kiện để đi (như anh Thành, bạn Thân Hoài Anh...) chưa kể hơn hai chục người rớt lại học thêm năm nữa ở 166 vì “hết chỗ”. Tạm biệt 2 quả cầu ở Tân Sơn Nhất, tạm biệt Sài Gòn - thành phố “mưa rồi chợt nắng”, lại một chuyến đi dài ngày bằng tàu hỏa, tôi đã có kinh nghiệm nên ra ngay mấy cây ổi gần cổng gác lấy búp non nhai luôn. Trên tàu cùng ra Bắc với chúng tôi là những anh lính vừa ở chiến trường K về, cảm giác bất yên vẫn còn nguyên đó. Ra đến ga Hàng Cỏ lúc hơn 3 giờ sáng, lần này thì chả có ai đón ai nữa, chỉ khổ các bạn nhà xa lại đi tiếp. Chúng tôi mấy đứa đi bộ thong dong về nhà, đường xá vắng hoe, chỉ có vài ánh đèn vàng vọt, sau lưng vẫn có cái ba lô như cách đây 9 tháng thôi, tuy thế mấy đứa cũng lớn lên rất nhiều, rắn rỏi hơn và đã sẵn sàng cho một chuyến đi còn dài và xa hơn nữa - với một số người là 5 năm, một số người là rất nhiều năm, và...


Có nhiều người tôi vẫn nhớ rất rõ nhưng không thể kể hết trong mẩu chuyện ngắn này. Có những người đã ra đi mãi mãi, như thủ trưởng Dực, anh Thanh, anh Giàu, bạn Quốc, bạn Lộc... Ai cũng có những vấp ngã, trày trật trên đường đời, kẻ sớm người muộn khác nhau, có người bị “sao quả tạ” chiếu như bạn Kiên của chúng ta, tuy nhiên hôm nay chúng ta vẫn tụ họp nhau được ở cùng một chỗ, có các phụ huynh, các thủ trưởng cũ, các thày cô...đó quả là việc không hề đơn giản, khi đã 35 năm qua rồi. Hình như trong chúng ta chưa ai thành “tướng” cả, số phận của C156 có thể là như vậy, cũng đã muộn rồi và hình như cũng không quan trọng nữa. Rất nhiều người đã ra quân, và quân đội chỉ còn là hoài niệm trong ký ức xưa. Bây giờ đa số đã thành ông, thành bà hay chuẩn bị thành ông, thành bà...nỗi lo của chúng ta chính là con cháu. Chúng sẽ có điều kiện hơn chúng ta, giỏi giang hơn chúng ta, nhanh nhẹn hơn chúng ta...chỉ có băn khoăn một chút, chúng sẽ có môi trường tập thể như ông cha chúng ngày trước hay không? Một trong những câu thành ngữ Nga đầu tiên chúng ta được học ở Tân Sơn Nhất là “не имей сто рублей, а имей сто друзей!» - chúng ta đã có may mắn có gần 200 “друзей» tại C 156 ngày ấy, và ngày nay, sau 35 năm vẫn những “друзья» ấy vẫn ngồi lại được với nhau để ôn nghèo kể khổ - chỉ mong sau bọn trẻ cũng có những dịp như vậy trong cuộc đời.

 

Thật sự biết ơn sự có mặt của các phụ huynh, các thủ trưởng, các thày cô đã làm tăng giá trị của buổi gặp gỡ hôm nay của chúng ta! Cám ơn những người vợ, đã dũng cảm lấy những “anh bộ đội” phần nhiều là nửa mùa này! Còn các anh, các bạn của tôi ơi, từ “đồng chí” ngày nào có vẻ không hoàn toàn như xưa nữa, ít nhất là đối với những người ở đây mà đã ra quân. Vậy chúng ta hãy gọi nhau bằng từ “đồng đội” thân thương - hôm nay, sang năm hay nhiều năm sau nữa! Các đồng đội của C 156 ngày nào!

 



Xem và bình luận thêm: https://www.facebook.com/namhhn/posts/907930059268932?notif_t=like 

Video: https://www.facebook.com/namhhn/posts/908288015899803?pnref=story 



Ý kiến không được cho phép