NGƯỜI VIỄN ĐÔNG

Nơi chia sẻ và lưu giữ các bài viết của Nam Nguyen

BÀI HỌC “CON CÁ” hay CHUYỆN THÀY TRÒ



(Dựa theo hồi ký “Tưởng rằng đã quên” của ông Lê Tâm)


Cách đây gần hai chục năm nhà báo Hàm Châu có viết một bài về những đóng góp khiêm tốn của tôi cho quân đội cũng như khoa học giáo dục. Bài khá dài, hồi đó chỉ có báo giấy là chính, nên phải chia làm hai kỳ, nhưng mới đăng được kỳ một thì đã “đình bản” luôn kỳ hai, hóa ra là do trong bài đầu anh Hàm Châu có đề cập đến một chuyện “tế nhị” (thời đó người ta không dùng từ “nhạy cảm” như bây giờ).


Đó là nhà báo Hàm Châu đề cập đến bố tôi, cụ Nguyễn Văn Mại tức Tiểu Cao (1858-1946) và những người học trò của cụ. Như đã kể, cụ nhà tôi theo ông Ngô Đình Khả lập nên Ban Giám hiệu đầu tiên của trường Quốc học Huế. Dù là mới phó bảng, cụ Tiểu Cao đã nổi tiếng về văn học nên thường được làm chánh hoặc phó chủ khảo, tất cả là 8 trường thi, và trong số học trò của cụ có nhiều danh nhân về văn học chữ Hán (theo phong tục trước kia những người thi được đỗ qua các cuộc thi hương, thi hội, thi đình đều phải khiêm tốn nhận là học trò của các quan chánh, phó chủ khảo của trường thi đó). 


Đặc biệt trong cuộc thi cử năm Tân Sửu (Thành Thái thứ 13), theo dương lịch đó là 1901 là một cuộc thi Hội, cụ tôi làm phó chủ khảo (ông Cao Xuân Dục làm chánh chủ khảo) là một cuộc thi mà lịch sử sẽ nhắc tới nhiều, vì trong danh sách phó bảng 13 người có hai người có ghi dấu ấn của mình trong lịch sử cách mạng Việt Nam là ông Nguyễn Sinh Huy (1862-1929), làng Kim Bồng, huyện Nam Đàn, tỉnh Nghê An và ông Phan Châu Trinh (1872-1926), làng Tây Lộc, huyện Hà Đông, tỉnh Quảng Nam. Bố tôi có kể lại cho chúng tôi nghe trong gia đình, là từ sau cuộc thi Hội này thỉnh thoảng người gia đình hai cụ Nguyễn Sinh Huy và Phan Châu Trinh cũng đến thăm thầy cũ là cụ Tiểu Cao (vì theo phong tục xưa người chấm đỗ cũng được người đỗ coi như thầy vậy). Thực ra đó là nét đẹp của tình thày trò ngày xưa, dù trò đã thành danh, đi đến tận những phương trời nào rồi thì con cái của những học trò đó vẫn thay mặt phụ huynh mình để tới thăm hỏi thầy giáo cũ. Mỗi lần đến thăm thầy cũ, người trong gia đình hai cụ thường đem lễ vật gì đó, kiểu như thúng gạo, con gà... và có lần đem cả một cái trướng đề bốn chữ: “Phẩm hoa chủ nhân”, ý nghĩa là tập thể thí sinh tự ví như một vườn hoa được quan trường chấm ra những bông hoa đẹp. Cụ tôi kể, có lần họ cũng khiêm tốn nói rằng nhờ thầy mà các cụ của chúng tôi được đỗ tuy vào thứ hạng thấp, (trò Phan Châu Trinh rồi Nguyễn Sinh Huy thuộc hàng “đội sổ”). Cụ Tiểu Cao nói ngay: “Trong một khoá đỗ phó bảng hoặc tiến sĩ thường những người đỗ vào tốp đầu hoặc tốp cuối mới là quan trọng, cũng ví như trong một con cá, cái đầu với cái đuôi mới quan trọng - đôi lúc những người đó mới làm nên sự nghiệp lớn cũng như con cá nhờ đầu và đuôi mới vẫy vùng được mọi nơi”. Họ biết cụ muốn nói cho họ là không nên chú ý lắm đến thứ tự thi đỗ, nhưng họ không ngờ lịch sử cũng đã phần nào chứng minh lời tiên tri của cụ, vì cụ Nguyễn Sinh Huy là thân sinh của Bác Hồ và cụ Phan Châu Trinh là nhà cách mạng, người có tư tưởng dân chủ đầu tiên tại Việt Nam, mà cái chết của ông đã dấy lên một phong trào yêu nước to lớn trong ngày an táng cụ. Sau này bố tôi cũng hay kể cho anh chị tôi rằng cái cô vừa gánh thúng gạo đến tặng, con nhà phó bảng Huy, trông hiền lành thế thôi mà đã “làm cách mạng”-có tên trong danh sách của Sở cẩm đấy-sau này chúng tôi mới biết đó là chị gái của bác Hồ...


Tất nhiên một vị tổng biên tập nào đó đã quá cẩn thận mà phải “đình bản” câu chuyện trên, mà theo tôi nay nó đã thuộc về lịch sử, cũng cần trả lại cho lịch sử. Có thể họ ngại chuyện vì sao phụ huynh của một cán bộ của bác Hồ lại là thày giáo của ông thân sinh ra bác, rồi lại chuyện học hành thi cử...Vậy xin kể tiếp, chính các học trò của bố tôi đã giúp cho cụ nhà tôi viết nên tác phẩm đáng giá nhất trong đời. Vì có nhiều học trò đến từ các vùng miền khác nhau, cụ Tiểu Cao đề nghị họ sưu tầm hộ những câu ca dao, tục ngữ Việt, cũng như hoàn cảnh ra đời của chúng. Tất nhiên tất cả chỉ có thể là phỏng đoán, các câu đó chỉ được truyền miệng từ đời này qua đời khác, nhưng cụ đã đề nghị các trò cùng mình để cho trí tưởng tượng được bay bổng, để dự đoán xem chúng ra đời trong hoàn cảnh nào, dân gian hay cung đình...Cuối cùng cụ viết nên được cuốn “Việt Nam phong sử”, một cuốn sách sử độc đáo đã được xuất bản nhiều lần trước thống nhất 1975 tại miền Nam!


Cũng cần nói thêm rằng trong công việc giáo dục cụ Tiểu Cao cũng như rất nhiều nhà giáo thời đầu thế kỷ 20 đã cố gắng nuôi dưỡng tư tưởng văn minh, độc lập dân tộc cho những thế hệ học trò của mình. Năm 1906, cụ chủ trì một bữa tiệc đánh dấu việc mở nhiều trường học ở tỉnh Khánh Hoà (được 24 trường), cụ giao cho con cái làm 14 bát bánh, trên mỗi bát đặt một chữ quốc ngữ để lộn xộn trên bàn; khi vào tiệc cụ Tiểu Cao mời các vị khách quý thử sắp 14 bát bánh ấy thành hai câu thơ lục bát có ý nghĩa đối với tiệc này. Không có quan khách nào sắp được, sau cụ Tiểu Cao sắp cho các quan khách xem, đó là hai câu mà riêng tôi thấy bây giờ vẫn rất thời sự: 


          “Xin trồng lấy giống văn minh

      Vun cây độc lập, quén ngành tự do”


Ba chữ “văn minh”, “độc lập”, “tự do” mà cụ đã thốt ra trong bữa tiệc khai trương 24 trường học mới của tỉnh, cho đến bây giờ cũng còn là sự ước mong của chúng ta. Đã hơn 100 năm, ba mục tiêu đó thế hệ chúng ta và con cái chúng ta cũng còn cần phải trồng và vun quén thêm nữa …  


Ghi chú:

-Nguồn thông tin: “Lô Giang tiểu sử”-lịch sử dòng tộc do chính bố tôi chấp bút, sau này cũng trở thành một tài liệu về lịch sử cho Thừa Thiên-Huế. 

-với nhiều người con, người cháu của các nhân vật lịch sử trong chuyện “con cá” sau này tôi có cơ duyên được gặp gỡ và họ có những tác động khá lớn đến số phận của tôi, nhưng đó lại là chủ đề của câu chuyện khác nữa.


Ảnh: phù điêu cụ Tiểu Cao do con trai thứ là linh mục Nguyễn Hy Thích tự điêu khắc.



Xem và bình luận tại đây: https://www.facebook.com/namhhn/posts/914382021957069 


Ý kiến không được cho phép