NGƯỜI VIỄN ĐÔNG

Nơi chia sẻ và lưu giữ các bài viết của Nam Nguyen

GIẤC MƠ VỀ ĐẢO LEN ĐAO



Công ty tôi có cậu T lái xe, dạo này sức khỏe có vấn đề nên không đi xa được, chỉ lái chở trẻ con hay anh em công ty quanh quẩn Hà Nội thôi. Cũng biết T phải chạy thận, mặt mũi cứ xám ngoét lại, mấy đứa trẻ tuổi đồng nghiệp còn trêu thêm là “T thần chết”, khổ thân nó cũng chỉ biết cười trừ, nhe bộ răng trắng lóa. Hôm trước liên hoan dịp “xá tội vong nhân”cả lũ chúng nó lại xúm vào trêu T, thì vẫn cái chủ đề sức khỏe ấy thôi, ai mời bia mời rượu gì cũng cạn hết. Đến khi bọn trẻ mới giật mình “anh T uống cả chục chai, sao không thấy đi WC thế này” thì nó mới cười cười mà bảo, “các chú suốt ngày trêu anh chạy thận mà còn không biết anh không cần phải đi tiểu à?” thì lúc ấy mọi người mới giật mình, quả là T lái xe cũng chả bao giờ thấy dừng lại dọc đường, ở công ty thì cũng chả bao giờ thấy ra WC cả...Sau đó đến đoạn karaoke thì đến lượt, T hát một bài mà làm tất cả phải sững sờ, không phải vì T hát hay, mà vì có quá nhiều cảm xúc dồn nén trong bài hát ấy-“Gần như niềm tuyệt vọng”:

https://www.youtube.com/watch?v=078NUYMHQQg 


Sau đó T tự kể về cuộc đời em, thật như có thể. Em sinh ở Hà Nam, chả thể gọi là quê nghèo nhưng nhà nghèo thật, vì nhà chả có ruộng, nhà rặt các chị chỉ mỗi T là con trai, đến vườn khi lớn lên bố mẹ chia đất cho các chị để lấy chồng cũng hết luôn cả vườn. Tuổi thơ là cả chuỗi ngày đến trường một buổi, còn thì mò cua bắt ốc, trâu bò có đâu mà chăn, may mà lúc đó còn cua, còn ốc mà mò...Hết cấp 2 được cái lớn xác, đã có dáng dấp thanh niên, được mấy anh cùng xóm rủ đi đào vàng, còn sang xin hộ bố mẹ cho T đi kiếm ăn xa. Bố mẹ cũng tặc lưỡi, thôi trời sinh voi trời sinh cỏ, đi đi cho đỡ khổ chứ ở nhà khổ quá...


Đó là môt cái bưởng vàng trên Yên Bái, nằm lọt giữa vùng toàn đồng bào Mường với Mèo. Ngựa thồ lương thực vào cũng phải đi mất cả một ngày mới tới nơi, thế nhưng cứ có tiếng mìn nổ “ủm” một cái thì công an với dân quân ở đâu xuất hiện nhanh lắm, thu sạch, lại còn phạt nặng nữa, thế nên “chủ mỏ” dặn dò “bưởng trưởng” quản anh em tuyệt đối chỉ dùng cuốc xẻng mà đào, cấm tiệt đánh bộc phá. Anh em đa phần đồng hương Hà Nam, biết nhau hết, cứ thế là chia ca ra mà đào, những cái hào chỉ sâu vài mét thôi nhưng xuyên sâu vào sườn núi. Được vài tháng thì chủ mỏ hết tiền, bắt đầu bán bớt “cổ phần” cho lính tráng, tức là lính tráng bây giờ cũng thành “đồng sở hữu” với chủ mỏ, bỏ tiền góp sức vào mà làm, được thì ăn chia. Đào mãi cũng chưa thấy được gì, chủ mỏ lại cũng hết tiền thêm lần nữa, nợ nần một đống nên bỏ trốn luôn. Anh em thợ họp lại, thống nhất thôi chẳng nhẽ công sức bao nhiêu thành công cốc, còn tí sức tí lực  nào còn phải cố, biết đâu trời đãi kẻ kiên trì...Thế là lại đào!


Chú bé T đang tuổi dậy thì chưa bao giờ (và có lẽ về sau cũng sẽ không bao giờ) bị đói triền miên, ám ảnh đến mức như thế. Làm gì còn tiền mua đồ ăn, thứ ăn duy nhất có được đó là gạo để nấu cơm và muối. Đến gạo rồi cũng chả đủ, anh em phải thay nhau đi ăn cắp ngô, rồi ăn cắp sắn của bà con dân tộc, nhiều khi bị họ đuổi đánh xém chết, có lần T cuống quá chạy về nhảy tụt vào hào của bưởng vàng, chui tít vào trong, người dân tộc cũng chui vào tìm, may thế nào tìm không ra họ đành ra về, thế mới thoát! Mà dân Mường cũng có cái hay, thằng nào ăn cắp phải đánh đúng thằng ấy, chết thì thôi, nhưng những đứa người Kinh khác không bị bắt quả tang thì chả sao, họ mặc kệ...Rau rừng cũng chả có mà ăn, canh lõng bõng lá sắn với muối, muối là thức ăn, chỗ đó gần suối cạn nên cũng chả mấy khi có con cá con con nào mà cải thiện. Mà làm thì quần quật, với câu cửa miệng mà dân làm vàng nào cũng thuộc: “Vàng đi tìm người chứ người không tìm vàng được đâu”...Cuối cùng đúng là không tìm được vàng, cả lũ may mà biết dừng mà ra về, thì cũng đã hơn một năm đói khát cùng cực rồi...


Cả lũ trắng tay, chả đứa nào muốn về quê, thế nên T cũng theo các anh đi tiếp, thôi nghe Sài Gòn là nơi dễ kiếm việc thì tặc lưỡi đưa chân. Mỗi người tìm một công việc, T trẻ nhất mà chả hiểu sao ông chủ lại giao cho lái xe lam, hay là nó có khiếu làm lính lái? 4 năm giời T chở bia Hương Lúa đi giao hàng khắp Sài Gòn, Biên Hòa, Thủ Dầu Một, Củ Chi...T có khiếu thuộc đường tài lắm, chỗ nào đi một lần là nhớ như in. Ba bốn năm trời bươn chải đất Sài thành, người đen như củ súng, đen hơn cả dân Tây Ninh, dân Miên...Một hôm chợt nghe bố mẹ nhắn qua người quen là sắp có đợt tuyển quân, về mà đi bộ đội, chứ không xã họ phạt nhà mình, bố mẹ không có tiền mà “chạy” đâu! T mới sực nhớ ra là mình đã gần 18...


Ở đất phồn hoa này mấy năm, nhớ nhà da diết, thế là T bỏ việc nhảy xe khách về quê, cũng vừa kịp đợt khám nghĩa vụ. Thanh niên đi nhiều lắm (mà sao ở Sài Gòn chả thấy thanh niên nào đi nghĩa vụ vậy ta?), T cũng đi khám và tất nhiên là “thừa sức khỏe”, “cao hơn tây gầy hơn ta” lại đen như cột nhà cháy, cu cậu và một loạt đồng hương được gửi vào vùng 4 để luyện quân. Nghe đến “vùng 4” chợt thấy nhiều đứa nhìn mình khang khác, sau này T mới hiểu đã vào đấy luyện thì chắc xuất ra làm lính đảo, nhưng T đã xác định là kệ, số rồi đi đâu chả thế, bộ đội mà... 


Lại đi dọc Việt Nam bờ biển Việt Nam lần nữa, T chưa hình dung mình sẽ là anh “lính đảo” thế nào, thấy xa vời mông lung lắm. “Vùng 4” của cánh lính Hà Nam đợt ấy là gần Cam Ranh, tháng đó năm đó sao nóng khủng khiếp. 3 tháng luyện quân làm T nhớ như in, cứ như tất cả mới xảy ra ngày hôm qua...60 đứa một trung đội (sao hồi đó trung đội tăng cường thế nào mà đông thế không biết), có một sỹ quan đại đội phụ trách, và hai tay “lính cũ” được giữ lại để giúp rèn quân. Sỹ quan thì không đến nỗi nào, chứ bọn lính cũ này là nỗi kinh hoàng của cánh lính mới như T, mặc dù tuổi tác chỉ chênh nhau 1-2 tuổi nhưng chúng mới trải qua trận “rèn luyện” xong nên bao nhiêu hằn học chúng tìm cách trút lên đầu bọn mới chân ướt chân ráo này. T là một trong những đứa chịu đau khổ nhất, bởi lẽ cu cậu cao và đen hơn hẳn chúng bạn. Ngay mấy ngày đầu cậu đã lộ ra cái sự “ngố” của mình, đó là khi nghe các chỉ huy hô “nghiêm” là cậu lạ lắm, cả đời chưa thấy ai nói từ “nghiêm” mà lại nói nhiều lần trong ngày thế, thế là như một cái máy mồm cậu cứ tự động lặp lại cái từ đó. Thằng lính cũ cứ tưởng nghe nhầm, nhưng đến vài lần “nhại” nó thì đúng là quá sức tưởng tượng, nó bảo khu vực cuối hàng có đứa nhại, không nhận thì nó cho cả trung đội chạy 3km. Sợ bạn bè bị khổ vì mình, T đứng ra nhận, thế là sau buổi tập nó bắt riêng T đứng nghiêm ngoài nắng buổi trưa 30 phút. 2 lần T đứng cứ đến 10-15 phút là đói quá, run khuỵu chân xuống, thế là nó đánh vào chân, nhưng đến khi biết T không còn đứng được nữa thì nó chuyển sang hình phạt khác: cho T đi lên đỉnh đồi cát rồi tự lăn xuống, hai tay phải để thẳng theo ống quần! lăn xuống đến nơi nó lại hạ lệnh đi lên, lại lăn xuống, đủ 10 lần thì tha...Cát thì không đau lắm nhưng đói mệt cùng cực, lại cát bụi bám trắng xóa từ đầu đến chân...


Nói về hình phạt thì nhiều lắm, và T ngộc nghệch nên nếm đủ mùi phạt, hầu như ngày nào cũng bị. Hôm thì tội nói chuyện riêng (T vô kỷ luật quen rồi, bắt ngồi im cũng không ngồi được, mồm miệng cứ phải lẩm bẩm nói cái gì mới chịu được), giữa trưa lính cũ nó bắt một mình bê cả đống gạch từ trong bếp ra sân, xếp gọn gàng. Bê ra xong đâu đấy nó lại ra lệnh bê vào đúng chỗ cũ, cũng phải để thật ngay ngắn! Hoặc có hôm phạt mình T phải dùng cái xà beng nặng chịch, mỗi đầu chỉ được treo hai cái nắp chai bia, để gánh nước từ bếp ra tưới ướt chân cột điện ở ngoài xa, cứ thế gánh đi gánh lại đến cả trăm lần thì cột điện mới ướt...


Nhưng lần phạt khủng khiếp nhất thì lại không phải lỗi ở T, ít nhất là cho đến bây giờ nó vẫn nghĩ thế. Một hôm nóng quá, T lang thanh giờ ngủ trưa, bị tay lính cũ bắt được. Hắn bảo mày chết, muốn tao không phạt thì chạy ra ngoài kia mua bao thuốc vào đây tao tha. Hồi đó mới có mười nghìn một bao thuốc, nhưng T không đủ tiền, nên bảo “cán bộ ơi, em sai thì cán bộ cứ phạt, chứ em không đi mua thuốc cho cán bộ đâu!”. Thằng đồng hương cứ nhấm nháy dúi tiền cho T vay, nhưng T quyết không chịu, thế là thằng lính cũ kia bảo “được rồi, tao sẽ cho mày nếm mùi lính trẻ cho nhớ đời!”. Nó lên xin sỹ quan đại đội rằng đêm nay các anh cứ ngủ, để cho nó “luyện quân”. Đúng nửa đêm nó huýt còi báo động, cho dựng cả trung đội dậy, ra cái đầm đằng sau doanh trại bắt tất cả nhảy xuống mò tìm vũ khí vì có tin báo, có đứa giấu ở dưới đó...Cả trung đội mò mẫm đêm hôm, bùn đất từ đầu đến chân, tất nhiên làm gì có gì mà tìm...Đến sáng nó cho về vệ sinh, rồi đến buổi trưa hôm sau, trước lúc ăn cơm thằng lính cũ lại tập hợp cả 60 đứa lại, hỏi “các anh có biêt vì ai mà đêm qua bị báo động thế không?”. Thế rồi nó bắt T tiến lên phía trước, đứng nghiêm đấy, bảo rằng vì T mà cả đơn vị phải khổ, cả nó cũng khổ lây, bây giờ mỗi người phải đi qua tát T một cái thật mạnh, ai tát không mạnh thì nó sẽ đứng cạnh tát thay, nó tát thì tất nhiên là cực mạnh đấy! Thế là cả trung đội lần lượt tát T, nhiều đứa cũng cay cú T thật vì bị hành cả đêm nên tát mạnh ra trò, T chỉ thấy đau mấy cái đầu, sau đó mất hết cảm giác đau, chỉ nước mắt cứ thế là ứa ra! Có mấy đứa cùng làng không nỡ tát mạnh, T còn phải van vỉ “chúng mày cứ thẳng tay tát tao đi, chứ không cán bộ tát thay thì còn đau hơn...”. Sau đó T mấy bữa cũng chẳng ăn được cơm nữa...


3 tháng huấn luyện thế mà qua nhanh, chỉ có cái đói vẫn thường trực cùng với những tay lính đang tuổi dậy thì như T, ngày ngày lăn lê bò toài, cuối đợt mỗi đứa được bắn 3 viên đạn thật rồi hoàn thành đợt “rèn lính” ấy. T bị trù úm, phạt nhiều như vậy, nhưng nó lại chả để bụng thù hằn mấy thằng lính cũ hành hạ nó, và cũng chẳng thèm tham gia vào trận đánh “hội đồng”-nhiều đứa thù bọn lính cũ nên đã tổ chức nện cho 2 đứa ấy một trận trả thù cũng cực kỳ dã man. Nhiều đứa bị lộ phải đi cải tạo, nhiều đứa lên đường ra đảo, nhưng T và mấy đứa nữa chả hiểu có phải vì “hiền” không mà được cho đi học điện đài thêm ba tháng nữa. Thế rồi sau 6 tháng từ ngày nhập ngũ T bắt đầu hành trình ra đảo, và lúc đó trên tàu T và mấy đứa nữa cùng đợt được tàu lần lượt chở ra các đảo, có cả mấy sỹ quan ra đảo thay người...


4 ngày 3 đêm trên tàu thì cũng đủ cho anh em nói đủ thứ chuyện về Trường Sa, trận chiến Gạc Ma 1988 và Len Đao. Lúc đó là năm 1995, lần đầu T được nghe về Gạc Ma 1988. Có giỏi tưởng tượng thế nào thì T cũng không tin được đồng đội đón khi cập “đảo”-đó chỉ là một mô đá nhô lên khỏi mặt nước khoảng 40m2, xung quanh bốn bề là nước, chỉ khi nào thủy triều xuống thì san hô mới trơ ra, khoảng 600-700 m2. Bé chả khác gì cái lán của “bưởng vàng” trên Yên Bái. Lúc  T đến để “thay ca” cho các anh em ở đảo về đất liền thì trên đảo đang đông lắm, có tới năm chục anh em bộ đội ra đó để xây dựng đảo (chứ quân số chính thức chỉ có T và 2 sỹ quan, 3 lính). Tất nhiên đông thế thì làm sao mà xoay xở trên “đất liền” được, tất cả phải sống trên một cái bè gỗ to, còn ai làm việc mới ở trên đảo thôi. Sau mấy tháng họ mới hoàn thành xây đảo, tàu ra đón họ về đất liền, để lại cơ ngơi mới dựng cho 6 anh em trong đó có T...


Cả đảo bây giờ là một cái nhà cấp bốn, mái bằng, cửa kính đâu ra đấy, trên nóc có chỗ để cắm cờ Việt Nam, cũng chỉ có 40 m2 đó thôi (sau này ta có mang bê tông, xi măng ra gia cố và cơi nới đảo thêm thì đó là chuyện khác, ngày trước chưa có thế). Cũng có cửa kính, cửa ra vào, giữa nhà là hào công sự đào sâu xuống đất. 6 cái giường cá nhân, đầu giường cả dãy đủ loại súng, lựu đạn mỏ vịt, đạn thì nhiều lắm, cả đảo có một khẩu SKZ. Có bếp và 3 thùng phuy to để trữ nước ngọt, trữ dầu đun và xăng để chạy máy. Thế là bọn T được ở điều kiện quá đoàng hoàng so với anh em các khóa trước rồi. T vẫn nhớ mãi câu cửa miệng của anh sỹ quan chỉ huy: “40 mét vuông thôi, nhưng đó là Tổ quốc!”.


Tất cả được đả thông: ta không được/nên khiêu khích địch- địch đây là Tàu ở đảo Gạc Ma. Gạc Ma to hơn nhiều, cách hơn 10 km nên hôm nào trời quang thì ta nhìn thấy Gạc Ma khá rõ bằng mắt thường, còn dùng ống nhòm thì nhìn rõ lắm, chứng tỏ ngược lại chúng nó cũng nhìn rõ ta. Mấy anh em xác định là nếu Tàu có tấn công đảo, thì trước khi bị diệt cũng phải chơi hết cơ số đạn dược mình có, chứ chả chịu nhịn như 1988 nữa đâu! Thỉnh thoảng Trung Quốc lại cho một tốp tàu chiến đi vòng quanh đảo Len Đao, sát đến mép san hô, sóng đánh dào cả vào trong vệ nhà. Những lúc đó anh em đều núp dưới hào (để cho Tàu không biết ta có đông hay không, đó là ta nghĩ vậy, hồi đó bọn T đâu có nghĩ gì đến Tàu và các nước khác có vệ tinh...), nhưng may sao chúng nó cứ diễu võ dương oai như thế, nhưng cũng chưa xảy ra đụng độ lần nào!


Anh em xây dựng về đất liền rồi, còn lại có 6 người trên đảo, buồn hiu hắt! Quần áo giặt bằng nước biển cứ cứng như mo nang, dần dần rạn nứt rồi vụn ra như đá, nên cả ngày anh em chỉ độc cái quần đùi, da thịt lúc nào cũng cảm giác có một lớp muối mịn bám ở trên, nhưng trên đảo còn mát hơn ở Cam Ranh. Cũng may cả hai năm T sống ở Len Đao chả bị cơn bão biển nào, mưa cũng khá hiếm hoi nhưng đều là những dịp quý báu với đám lính quanh năm thiếu nước ngọt này. Nước ngọt, xăng dầu, rau, gạo thịt, thực phẩm...đều được tàu chở từ trong bờ ra cho đảo, vài tháng mới có một chuyến. Rau thì chỉ đủ cho vài ngày đầu, ăn cho đỡ thèm thôi chứ chả có cách nào bảo quản lâu được, cũng chả có đất mà tăng gia. Gạo lúc nào cũng dự trữ vài tạ, chả lo đói bao giờ. Thịt hộp là chính –lâu ngày khó ăn lắm, nhưng trên đảo không sợ thiếu đạm, cá bắt dễ và thừa ăn không hết. Bắt cá thì có mấy cách, câu cũng được, bơi ra xa rồi dùng chất nổ đánh dưới nước cũng được, đứa nào rồi cũng thành thạo sử dụng chất nổ cả. Thỉnh thoảng đánh bắt được những chú cá đại dương vài chục ký, chỉ có thể ăn và để dành những phần ngon nhất, còn lại lại trả về cho biển. Lâu lâu lại bắt được những cụ rùa biển to bằng cả cái mặt bàn, bọn T nghịch chỉ khắc tên lên mai của cụ rùa, rồi lại thả cụ về với đại dương thôi, to quá chả biết ăn thế nào. Vùng đảo Len Đao có một “đặc sản” là con ốc nấm, những thuyền dân chài thường qua đảo để nhờ lính bắt rồi thu mua, cũng vài trăm nghìn một kg, hồi đó là đáng tiền lắm, nhưng phải lặn sâu hơn 10 mới có thể bắt được loài ốc này. Ra đảo rồi chỉ vài tháng đứa nào cũng bơi giỏi như rái cá, có thể lặn ngụp cả buổi chả biết mệt. Không hiểu sao T có bắt được ốc nấm cũng cho hai thủ trưởng, không phải vì “sợ” đâu nhưng chắc nó nghĩ các anh ấy có vợ con, gia đình mới cần tiền, chứ ở trên đảo một thời gian thì bọn lính như T dần dần mất hết cảm nhận về tiền...


6 anh em thay nhau nấu nướng ở ngay ngoài hè, bằng bếp dầu, sỹ quan cũng như lính. Nước ngọt ít, lại chả có rau mà nấu, nên canh hầu như không có, hoặc có thì nấu bằng bột quả me chua mang đất liền ra; bọn T nấu cơm và một hai món thịt, cá rán hay kho, có nước mắm khô, được cái no nhưng khó nấu ngon lắm. Thịt hộp nhiều nhưng lính “chê”, bắt cá ăn ngon hơn. Chè thuốc thì đủ, đổi hàng với cánh ngư dân qua lại đảo nên sẵn lắm. Cái thiếu nhất vẫn là nước ngọt, để nấu ăn thì đủ, còn lại mỗi đứa được một xô nước một tuần để tắm, thế thôi! Không hiểu sao bếp dầu nấu ở trong đất liền thì bình thường, ít phải thay bấc lắm, mà nấu ngoài đảo này thì khói và bồ hóng nhiều kinh khủng, đứa nào đến lượt nấu cơm là mặt mũi đen như bồ hóng, vài buổi lại phải thay bấc rồi. Nước ngọt ngoài đảo cũng chả ngọt hay sao ấy, mặc dù là chở từ đất liền ra, vì pha cà phê uống chả ra sao, cho nên dù có cả phê chả đứa nào uống. Ở đảo chìm có cái thiệt thòi, là dù có tàu ra, có các “thủ trưởng” qua thăm, thì cũng chỉ ghé 5 phút, và các “thủ trưởng” cũng chỉ lên đảo rồi đi luôn! Các anh lớn giải thích, chắc là “ta” không muốn căng thẳng với “chúng nó” nên không qua lại nhiều, chứ không phải sợ “chúng nó” tấn công bất ngờ đâu! Biết vậy nhưng chỉ có mấy anh em, tàu vào mấy phút lại đi, T và các bạn cứ thấy hụt hẫng thế nào ấy...


Cái khổ lớn nhất của lính Len Đao là BUỒN! Qủa là ngoài việc bắt cá, nấu cơm, bơi lội...thì có ít việc để làm lắm. Ra đảo một tháng là 6 anh em biết tất tần tật về nhau, họ hàng quê quán làm sao...đến mức sau đó chả còn gì mà hỏi, mà kể nữa. Lúc đầu cũng chia nhau gác đêm, nhưng rồi chính các anh sỹ quan bảo thôi bỏ, có 6 anh em sống chết có nhau, cứ ngủ đi, Tàu mà có bò lên đảo ban đêm thì hoặc ta phát hiện được, súng ống để sẵn đầu giường rồi, ta đánh nó chết bỏ, còn nói dại không biết thì thôi phải chịu chứ sao (bây giờ nghĩ lại mới thấy cũng liều, đến khóa cửa cũng không có, người nhái “chúng nó” mà bò vào tận buồng cũng chả biết, toàn đứa đang tuổi ăn tuổi ngủ như thế...). Đạn thì nhiều, thỉnh thoảng sỹ quan cho mang ra bắn để “thông súng”, Tết thì chia cho mỗi đứa một băng tiểu liên thay pháo, lựu đạn mỏ vịt thì để ném cá. Trước khi ra đảo bọn T được lính cũ bày cho, mỗi đứa mang 5 kg men rượu theo người, thế là tha hồ nấu rượu mà uống với nhau, ngày nào cũng uống đâm ra T sau này lên bờ thành kẻ nổi tiếng vì uống giỏi...


Mặc dù tháng nào cũng có tàu chở lương thực, quân nhu ra Len Đao (tàu chỉ ghé tầm nửa tiếng mỗi lần thôi) nhưng 6 tháng (!!?) mới có tàu chở thư, báo ra đảo! Tức là 6 tháng lính mới nhận được thư nhà, và có thể gửi thư cho ai đó trên đất liền. Mỗi lần tàu ra bao giờ cũng có một, hai con hải âu đứng nghỉ trên nóc tàu, thế là chúng nó cũng ra thăm đảo luôn, chứ đảo nằm trơ giữa biển bình thường chả có chim chóc gì cả. Sau một năm thì T nhận được thư cô người yêu-thực chất cũng mới chỉ là cô bạn gái hàng xóm-đã chuẩn bị lên xe hoa, lúc nhận được thư thì cô ấy đã cưới chồng bốn tháng rồi. Báo thì có cả chồng dày, nhưng đọc đi đọc lại hết ngay, đọc cho đỡ buồn về sau thuộc từng câu, từng chữ, nhưng cứ đổi nhau mà đọc chứ biết làm gì...Mỗi ngày đảo chạy máy nổ độ một tiếng đồng hồ, làm gì có TV, di động lúc đó trên bờ cũng còn là hiếm, ở đảo mỗi đứa ôm một cái cát-xét và một đống băng, nghe đủ các loại nhạc, đến năm sau thì băng cũng hỏng hết.  T ba lần một ngày phải dùng bộ đàm báo cáo lên bờ, thế nên cũng đỡ buồn hơn, mấy cô tổng đài sau thành thân với T, qua đó T cũng hỏi được một ít tình hình trên bờ, và có nhắn gửi gì về quê thì các cô ấy cũng giúp T mà thông tin. Trên đảo buồn và rỗi, chú lính nào cũng trở thành “văn sỹ”, tức là có khi trên bờ cả năm chả động đến cây bút, thì lên đảo chịu khó viết lắm, thế mới lạ. Mỗi đứa có một quyển sổ, chép vào đấy đầy văn thơ, của nhiều tác giả, và viết cả những suy nghĩ của chính mình nữa, đến bây giờ 22/12 hàng năm bọn “vùng 4” của T hẹn gặp nhau, mỗi đứa vẫn mang theo quyển sổ của mình đi “tụ”. Một niềm vui khác nữa là đọc và trả lời thư của “đất liền”-đó là thư của chị em mấy trường đại học, cao đẳng (tâm lý ghê, toàn chị em nhé!) và thư của các cháu thiếu nhi, đa số là của tỉnh Khánh Hòa. Chị em thì sướt mướt lãng mạn lắm, gửi ra cả khăn mùi xoa thêu, cả áo...bọn T cũng chịu khó thư từ trả lời đâu ra đấy, đúng chất lính đảo! Các cháu thiếu nhi thì ngây thơ hơn, có đứa viết “Các chú ơi, chúng cháu thương các chú vất vả lắm”-đọc thấy thương và nhớ nhà vô cùng. Có đứa viết rất “ngây ngô”-thực ra không phải nó láo lếu đâu, mà trẻ em nó nghĩ sao viết vậy: “Các chú ơi, sao các chú ngu dữ vậy, khi không ra đảo ở đó làm gì, sao không ở nhà cho rồi?”. Quà tặng của đất liền thì khá nhiều nhưng đơn điệu, nhiều nhất là đồng hồ báo thức, rồi đến radio, chia nhau mỗi đứa có cả chục cái. Ở đảo lần đầu tiên T biết làm thơ...


Tàu thuyền đánh cá thì qua lại khá nhiều! Tàu Việt Nam thì thu mua ốc nấm và đổi chác chè, thuốc. Tàu nước ngoài muốn lượn lờ ở đây phải xin phép bọn lính Len Đao như T-oai phết đấy-“xin phép” toàn bằng hiện vật thôi chứ không được lấy tiền. Philippin thì cho dừa, Inđo thì cho bánh kẹo, Đài Loan thì rượu bia...nói vậy thôi chứ không phải ngày nào cũng có tàu qua đâu để mà giữ “chủ quyền”. Thuyền cá của Trung Quốc thì bọn T nhất quyết đuổi đi, lôi thôi là vác súng bắn cảnh cáo ngay-hồi đó chúng nó chưa ào vào hàng ngàn chiếc như thời bây giờ, nên không dám ngông nghênh...


Cuối cùng 2 năm lính đảo cũng qua như một giấc mơ, vì mỗi mình T lên đảo đợt đó nên ra đi cũng chỉ có một mình. T rời đảo nhưng cảm giác cứ như chỉ đi đâu một thời gian rồi sẽ lại quay về. Quả thật không lạ, vì lần này tàu đi lòng vòng để đưa người nọ, đón người kia hơn chục ngày rồi mới cập bến Sài Gòn. Ở đó mấy ngày, T được nhận quyết định ra quân, truy lĩnh tổng cộng được 8 triệu, đó là đã có đủ các loại trợ cấp khó khăn, vùng miền rồi đấy! 2 năm nay mới nhìn thấy mặt đồng tiền, cũng mất cảm giác đó là số tiền lớn hay nhỏ nữa, T bắt xe khách về quê. T trên đất liền còn chống chếnh hơn trên tàu thủy...


Thế nhưng ở quê chẳng bao lâu, 8 triệu biếu mẹ một ít, còn lại hết vèo! Số phận đưa đẩy T một lần nữa về Khánh Hòa, làm chân lái xe đưa nước đá cho vợ chồng anh rể và bà chị. Suốt ngày phóng xe khắp Nha Trang, T vẫn cứ ám ảnh ngoài biển xa kia, là cái đảo Len Đao 40 m2 “của mình” vẫn dõi mắt theo T. Mấy năm Nha Trang chả để lại nhiều ấn tượng, rồi ở quê mai mối gọi T về lấy vợ cùng thôn...


Sau đám cưới, làm gì có nhà, có việc, hai vợ chồng dắt díu nhau ra Hà Nội thuê nhà, xin đi làm công nhân. Nhà máy điện tử ở tận Hưng Yên, được cái có xe đón công nhân Hà Nội, sáng đi tối về, cứ thế hai vợ chồng “cày” suốt mấy năm, vợ chỉ nghỉ vài tháng khi sinh con bé đầu lòng. T khéo tay về điện, lại có sức khỏe, ông chủ cho tăng lương nhưng bắt làm tăng ca không ngày nghỉ. Mà cái trò lắp mấy cái tivi nội địa, toàn những mác ở thủ đô chả bao giờ thấy nhưng ở các tỉnh thì bán chạy thế không biết, nhất là dịp sắp tết phải làm cả đêm mới kịp thực hiện đơn hàng, có lần đêm ba mươi hai vợ chồng chỉ kịp đón con gái từ nhà gửi trẻ về thì đã giao thừa, thế là mất Tết!  Không dám “làm để chết” như thế nữa, hai vợ chồng T đành chia tay cái nhà máy điện tử đã nuốt mất mấy năm tuổi trẻ của họ. Vợ T về đi chợ bán hàng xén, còn thì giờ thì trông con, T theo mấy đứa đồng hương Xuân Trường đi lái taxi, quả là mấy năm ấy cứ hai chú lái taxi ở Hà Nội thì có một đồng hương Hà Nam!


Nghề taxi không phải dễ dàng gì, nhưng T có khiếu lái xe, giỏi thuộc đường và nhất là chịu khó, nắng cũng như mưa không quản nề hà, càng mưa gió càng dễ kiếm tiền. Khá nhiều vụ lộn xộn, nhưng với dáng vóc to cao, nước da đen sì và có “hội đồng hương” lúc nào cũng đông đảo trên mọi nẻo đường nên T không hề hấn gì. Kết quả là sau mấy năm tích cóp T kiếm đủ tiền mua con Matiz, thỉnh thoảng ba bố mẹ con về quê cũng thấy ung dung, bõ công bao năm vợ chồng lặn lội...


Cái liên doanh khổng lồ của Samsung ở Bắc Ninh làm xáo động cả “làng” lái xe Hà Nội, T cũng theo chúng bạn chạy một chân lái xe ở đấy, Matiz thì để cho thuê. Lương cao lắm, lương thưởng ngót nghét ba chục “củ”, nhưng cũng “đáng đồng tiền bát gạo” lắm! T phải đón chuyên gia Hàn Quốc, thường chúng nó ở khu vực Mỹ Đình, rồi phóng như bay sang Bắc Ninh-người Hàn Quốc không bao giờ được đến chậm! Chạy con Innova mỏng mảnh mà bọn Hàn cứ giục phải chạy ít nhất trăm hai, T lúc đầu cũng hoảng lắm, nhưng sau cũng phải quen, không chạy nhanh chúng nó đuổi việc! Sang đến nhà máy rồi thì nhàn, Hàn Quốc làm việc đến tối mới về, hết việc thì thôi. Có một gian nhà cho cánh lái xe tụ bạ, thôi thì rượu bia, bài bạc, hút xách...chủ yếu để giết thời gian, T không sa vào bài bạc nhưng chúng bạn mời uống thì cũng phải tham gia tí, chả gì cũng chót nổi tiếng uống giỏi mà. Đến tối bọn Hàn Quốc về, lại phóng như bay trăm hai, mà chúng nó có về nhà đâu, hôm nào cũng như hôm nào còn phải đi ăn uống, karaoke hay vũ trường...thế là khi T đưa chúng nó về xong rồi về nhà, thì bao giờ cũng đã quá nửa đêm. Sáng mai lại chạy Mỹ Đình...


Làm được gần năm, cũng tích được chút tiền thì sức khỏe T đi xuống rõ rết. Đi khám tổng thể thì hóa ra thận suy lắm rồi! Thế là thôi việc, mấy năm chạy chữa, T phải bán cả Matiz, dính cái bệnh thận này coi như gắn chặt với cái phòng chạy thận ở Bạch Mai, chả còn đi làm đi ăn gì được. Không hiểu sao suy thận nhanh thế, bây giờ thì chả biết nguyên nhân do đâu, cả mấy chục năm ngày nào nó cũng lao động quần quật, lúc nào chả vất vả! Nhưng T đoán già đoán non, rằng thận bị ảnh hưởng lớn nhất vì đợt ăn mặn ở mỏ vàng trên Yên Bái, hồi đó T còn non nớt quá, không thì đợt ở trên đảo Len Đao, cũng suốt ngày nước mặn với ăn mặn, mặc dù cũng gần hai chục năm qua rồi. T cũng như tất cả dân chạy thận, phải về quê lo bằng được cái chứng nhận “hộ nghèo”-mất hơn chục đấy nhưng cũng phải cố, chứ không thì lấy đâu ra tiền mà chạy. T kể “hộ nghèo” được miễn đến 95% chi phí chạy thận, nhưng bệnh này quái ác, phải tốn nhiều tiền thuốc thang bồi bổ lắm, chưa kể ăn uống còn tốn bằng mấy người thường. T bảo cứ hai đêm phải chạy thận một lần, mỗi lần 3-3,5 tiếng, trước đó phải ăn cho thật no, sau khi chạy thận ai cũng sụt cân, T sụt 4-5 kg mỗi lần, tụt cả quần! Chạy mãi rồi thành ra thạo, hai vợ chồng cứ chở nhau đến, T nằm vào chỗ rồi tự chỉnh máy cho mình, xong rồi về, chả cần bác sỹ giúp nữa! Cũng chưa khổ bằng các nhà ở ‘xóm chạy thận” vì vẫn còn có được ít tiền, vợ đảm con cũng ngoan, tự đi học tự về, chứ không thì khổ to! Thế nhưng về lâu về dài thì làm thế nào bây giờ, khổ mình mà vợ con cũng khổ lây!? Đã lâu nó chẳng về quê, về xong ai cũng hỏi thăm chạng lòng lắm, mà về cứ vội vàng để ra chạy thận cũng chẳng ra làm sao, bố mẹ thì già cũng chẳng ra Hà Nội thăm con cháu được. T bảo bây giờ đi chụp thận của nó chỉ bằng quả nhót, nhỏ hơn cả của trẻ con, nhiều y tá soi xong còn nhìn trên phim không ra nữa... 


T đi làm lại ở chỗ công ty chúng tôi, tinh thần cũng đỡ suy sụp, có anh có em còn có người nói chuyện. Mặt mũi nó ngày xưa “thánh thiện” thế, tuy có đen tí thôi nhưng hiền khô, bây giờ thành ra mắt trắng môi thâm, mặt dài ngoẵng, trông như con nghiện, mọi người cứ đùa bảo chuyển T sang bộ phận “đòi nợ khó đòi” thì hợp. Lúc nào nó cũng phải mặc áo dài tay để che vết cắm ống hút, mọi lịch sinh hoạt đều phải tính theo thời gian biểu chạy thận. T kể chạy thận nhiều buồn lắm, cứ một tay bấm điện thoại, mà cũng toàn người quen nhau hết rồi, chả còn chuyện gì không biết nữa mà hỏi thăm, ai ngủ được thì đỡ buồn. T khó ngủ, cứ nói chuyện huyên thuyên với vợ nhưng ba bốn tiếng lâu lắm. Cứ thiếp đi thì không hiểu sao bao giờ T cũng mơ thấy mình đang ở đảo Len Đao, rõ mồn một.


Những lúc đi với T tôi hay hỏi về tâm tư nguyện vọng, T chỉ cười cười, vẫn cái kiểu cười Hà Nam nửa quê nửa ranh ma của nó. Nhưng khi hỏi cho chú em một ước muốn quay lại thời quá khứ, thì mày chọn ở đâu, nó không lưỡng lự bảo ngay: ”Em chọn quay về thời kỳ ở đảo Len Đao”. Quả thật đối với T, thời kỳ lính đảo là sướng nhất trong cuộc đời 40 năm của nó, khổ một tý, buồn một tý, nguy hiểm thì cũng có đấy, nhưng vô lo vô nghĩ, chả phải quá bận tâm cho việc miếng ăn hàng ngày, cũng chả có phiền lụy đến ai. Làm sao tôi có thể thuyết phục nó, là những năm tháng ở phía trước sẽ đẹp hơn 2 năm lính đảo ấy...


Xem và bình luận tại: https://www.facebook.com/namhhn/posts/942440395817898 


Ý kiến không được cho phép