NGƯỜI VIỄN ĐÔNG

Nơi chia sẻ và lưu giữ các bài viết của Nam Nguyen

TẾT Ở HUẾ THƯƠNG năm 1926

Tôi quê ở Thừa Thiên-Huế nhưng chưa từng được đón cái Tết nào tại quê, thế nên khá tò mò về việc ông cha ngày xưa đón Tết như thế nào. May sao đầu xuân này được nghe câu chuyện của những người con xứ Huế về Tết trên quê hương những năm xưa, trong đó có một cụ là nhân chứng sống của Huế một thời đã xa, vậy tôi xin cụ kể về Tết những năm cách bây giờ 90-100 năm và cố gắng ghi lại cái không khí Tết lúc đó...

Phải nói ngay nhiều nét ăn Tết của Huế giống với của Hà Nội sau này (người Huế nói là Hà Nội bắt chước theo Huế, vì ngày đó Huế là đất của vua, là thủ phủ của Trung kỳ từ Thanh Hóa đến Bình Thuận nên dù Bắc Kỳ có khâm sai, Nam Kỳ có khâm sứ cai quản nhưng ít nhiều cũng bị ảnh hưởng của đất thần kinh). Thành phố Huế lúc đó bé tí nên câu chuyện sẽ kể về cái Tết của cả dân thị thành (thường giàu có) và dân ngoại thành (đa số nghèo hơn nhưng cũng có nhiều địa chủ, quan lại...ở ngoài thành phố).

Tết âm lịch tất nhiên là một ngày lễ rất quan trọng cho dân Việt thời đó mặc dù Pháp đã đưa dương lịch vào đời sống Việt (cái khác biệt và có thể là lợi ích lớn nhất của dương lịch cho người dân, đúng như Anhxtanh đã nhận xét, là cho người ta ngày chủ nhật là ngày nghỉ!). Từ sau rằm tháng chạp trở đi nhà nào cũng tự làm bánh trái chứ không mua (vừa tốn tiền vừa không ngon): bánh chưng, bánh tét, bánh nổ (có những hạt như hạt ngô, nhuộm xanh đỏ, cho vào lò thì nở ra). Quảng Nam thì có bánh “ổ”-khá giống xôi nếp ép với đường, quế...học trò xứ Quảng hay mang ra Huế để dâng các thầy. Gần tết sẽ mổ lợn nếu nhà khá giả, nhà giàu hẳn thì mổ bò, còn dân thường thì mổ gà thôi. Hoa quả phổ biến vào tháng đó ở Huế là chuối, dứa (“thơm”), bòn bon, chôm chôm, bưởi (loại ngon là thanh trà), roi (gọi là “đào”) mít, quýt...Không có dưa hấu, dưa bở, táo, mận...Nhà nghèo tết vẫn phải ăn khoai, sắn. Hoa mai vàng thường được trồng sẵn trong vườn (mai, lan, cúc trúc đều có nếu vườn rộng) chứ không chặt mang vào trong nhà, và hoa mai vàng cứ đến Tết sẽ nở ngoài vườn rất đẹp. Bàn thờ nhà nào cũng bày rượu Phông-ten do Tây bán (thời đó rượu “nội”-quốc hồn quốc túy- bị coi là rượu lậu), ai muốn cứ việc mang chai đến cửa hàng muốn mua mấy lít thì rót vào, nhưng đắt đấy! Thuốc lá nội thời đó chủ yếu của làng Cẩm Lệ, còn thuốc ngoại của Pháp thì nhiều loại. Thuốc phiện được báncông khai, nhưng cửa hàng phải treo biển “RO” (revente opium), cũng như cửa hàng bán rượu phải có chữ “RA” (revente alcool). Mứt thì khá nhiều loại, nhưng phổ thông nhất là mứt gừng. Nhà nghèo làm mứt bằng đường mía đen, nhà khá giả mua đường trắng đóng thành viên...

Dịp cuối năm ai có tiền thì mua vải rồi mang ra thợ để may, vải thường do các thương nhân Ấn Độ cung cấp. Đàn ông đàn bà đều đi guốc gỗ, đàn ông đi guốc quai da, guốc đàn bà thì có thêu hoa trên quai guốc. Chỉ có các vị quan hay nhà giàu mới có “giày hạ” mà đi-đó chính là xăng-đan bằng da và đế da hay nhựa. Không ai đội mũ, người già đàn ông chít khăn đống, đàn bà chít khăn bình thường. Các bà, các cô nhà giàu đeo nữ trang: vòng cổ, hoa tai bằng vàng. Học trò cả trai lẫn gái Tết mặc áo dài, trai màu đen, gái màu trắng hoặc màu nâu sồng (nhuộm màu này rẻ!), thường đi chân không, thỉnh thoảng mới đi guốc thôi vì tốn kém! Con gái tóc dài, chải bằng dầu dừa, con trai tóc ngắn (cắt tóc gọi là “húi” hay “cúp”) hoặc cạo trọc lốc, đa số không có lược mà dùng!

Việc chiếu sáng khác với ngày nay: trong thành phố hầu như chưa có điện, còn ngoại thành thì hoàn toàn không có, do đó các nhà dùng đèn măng-xông (đốt xăng) hoặc đèn dầu hỏa. Bàn thờ thì thắp nến bạch lạp. Đèn măng-xông thường có 2 loại: 40 “bugi” và 200 “bugi”. Hồi đó chỉ cần một ngọn đèn 200 “bugi” là sáng cả một đám vườn rộng của nhà địa chủ, phải nhà sang lắm mới dám dùng. Ít ai biết biệt danh của bác Lê Duẩn thời hoạt động trước kia là “ông 200 bugi”-vì ông nắm được tất cả đường lối của Trung ương, lại biết phân tích đường đi nước bước ngọn ngành cho anh em thuộc cấp triển khai...nên tên húy này nói lên uy tín của ông cao nhất thời đó rồi!



Dịp tết chợ búa bán chạy mấy mặt hàng: vải vóc, đèn lồng, pháo. Cũng như sau này, trẻ con thích nhất lăn vào “hôi” những quả pháo xịt. Đèn lồng treo trong nhà, nhà nào giàu, có thừa đèn mới treo ra sân hay ra cổng (nhà nghèo không có cổng). Nhà nào có người học cao mới có câu đối mà treo...Tết học trò nghỉ 10 ngày, dân công sở chỉ nghỉ 3 ngày, chợ búa vẫn hoạt động không nghỉ.

Không có đua thuyền trên sông Hương, mà thường làng nào tổ chức đua thuyền riêng làng đó (giữa các xóm với nhau). Rất ít hoạt động thể thao hay vui chơi công cộng. Làng nào cũng có trồng cây đu, người trên đu, người dưới vỗ tay, cứ một trai một gái đu, đôi nào đu đẹp cũng sẽ được thưởng quà.Từng họ trồng cây nêu (bằng tre hoặc gỗ, bôi dầu hoặc mỡ cho trơn, trên đỉnh có quà)-ai trèo lên được thì lấy quà. Quà thì cũng chỉ là ổ bánh tét, cặp bánh chưng thôi, có khi là cái bu gà, sang lắm là tấm vải! Tuy vậy đó là một phong tục rất đẹp và không hề tục tĩu, sau này nhiều người đả phá nó cũng có phần hơi quá, nhất là mấy ông Tú ở Bắc Kỳ! Ở thành phố có 1 trận đá bóng cho người Việt, Tây thì chơi tenis. Dịp Tết hay có gánh xiếc Tạ Duy Hiển ghé qua lưu diễn, thường đó là sự kiện rất đình đám và được nhiều người trông ngóng. Nhà quê buổi tối có trò vui là rủ nhau đi xem “hát bội” (tuồng): “Chiêu Quân cống Hồ”, “Tiết Nhân Quý”, “Điêu Thuyền Lã Bố”... Ở Huế có rạp chiếu phim Tân Tân (cinema) chiếu phim Pháp, lúc đầu phim câm, sau này mới có phim kèm âm thanh và thêm nhiều phim Mỹ. Rạp bán 2 loại vé: ngồi trước màn ảnh và sau màn ảnh (cũng có ghế nhưng vé rẻ tiền!). Thành phố Huế hồi đó chia làm 2 khu: khu bên trái sông Hương là người Việt ở, có Thành Nội với Quốc Tử Giám, và rạp Tam Tân ở đó, còn khu bên bờ phải sông Hương là khu “Tây” gồm tây và những nhà người Việt giàu có, thì có rạp cinema Morin. Trường Quốc Học, Đồng Khánh đều nằm ở khu “Tây”.

Bởi bia thời đó còn chưa có, rượu Phông-ten của Pháp quá đắt ít ai dám xài nên chỉ có các cụ trung niên nhâm nhi với nhau mấy chén con con, chứ không có cảnh say sưa bét nhè như ngày nay. Hồi đó Huế cũng khá phổ biến “hát cô đầu” nên các ông cũng hay tranh thủ dịp Tết đi vui vẻ đôi lần, mà thời đó các bà đâu có được quyền ngăn cản hay càm ràm gì đâu, mỗi ông đã có mấy vợ lại còn tha hồ đi chơi, sướng thế là cùng! Những năm 30 bắt đầu có phong trào “nhảy đầm”-một nét văn hóa rất Tây mà hồi đó bị coi là “ăn chơi phóng túng”. Tui vậy có một nét lịch sử khác mà bản thân tôi rất bất ngờ khi được biết, cũng có thể coi là một nét “văn hóa”, đó là vào mấy ngày Tết đó dân Huế nhà nhà đánh bạc, người người đánh bạc, già trẻ lớn bé giàu nghèo gì đều đánh bạc! “Đánh bạc” ở đây nên hiểu là những trò chơi ăn tiền, thắng thua hẳn hoi, nhưng vẫn với ý thức vui chơi, không có mục đích sát phạt và ít cảnh cờ gian bạc lận. Hãy xem dân Huế chơi gì nhé! Nhà quê: giàu thì đàn ông chơi tài bàn, tổ tôm-đàn bà đánh “lú”, tứ sắc. Người nghèo hơn thì đánh “bài chòi” trong chợ, ngoài đường người lớn chơi "bầu-cua-cá-cọp", trẻ con đánh “nhất lục” bằng con xúc xắc. Thành phố hay ở quê các nhà giàu đều có một trò chơi rất phổ biến ngày đó- đàn ông đàn bà có thể chơi chung “xam hường” (“xam” là “tam”-tiếng Hoa), được chơi bằng con xúc xắc. Thanh niên, học trò hay đánh bài : “cac-tê” hoặc “ách”. Thời đó Pháo chưa đưa vào trò xở số nên chưa có “lô”, “đề” như ngày nay, có lẽ vì thế ít cảnh nhà tan cửa nát vì bài bạc. Hồi đó mỗi nhà thường tứ đại đồng đường cùng sống, nên dịp Tết cả nhà rồi bạn bè, hàng xóm sáng tối chỉ có việc ăn và đánh bạc, các cụ trên sập, dưới trải thêm vài chiếc chiếu, trẻ con ra sân mà đánh...Các o, các mế lo nấu đồ ăn dưới bếp cho cả nhà, nhưng nấu giỏi và nhanh xong rồi cũng ngồi vào “xới”! Buổi tối cả nhà đánh bạc và chờ người ta gánh đồ đi qua để ăn khuya: tào phớ, trứng vịt lộn, xôi chè! Quả là cũng “tao nhã” và hợp với cái không khí không lạnh, nhưng mưa xuân lất phất của xứ Huế mộng mơ!

Một việc gần như bắt buộc, đó là người theo đạo Thiên Chúa đi nhà thờ, còn lại hầu như ai cũng đi chùa, đi đền miếu, nơi thờ Thần Hoàng...dâng hoa quả, oản, xôi gà...ngoài việc tâm linh còn có một mục đích rất đẹp, là nuôi sống chính những vị sư sãi đó. Đó cũng là một dịp để các bậc cao niên khảo thí khả năng đọc câu đối chữ Hán của đám học trò lít nhít...

Tết nhất tất nhiên là dịp để mọi người đi thăm nhau. Các nhà sui gia hay đi thăm hỏi, hoặc các bậc trung niên mà ngày thường hay giao du với nhau thì Tết cũng qua nhau chúc năm mới, thường là từ mồng hai mới bắt đầu đi. Câu chúc Tết cửa miệng của giới công chức thời đó là “Chúc thăng quan tiến chức!”-thẳng thắn như vậy, vì việc làm quan thời đó không về có hàm ý xấu như bây giờ, mà hoàn toàn tự nhiên! Học trò thì rủ nhau đi chúc các Thầy trước Tết hoặc đúng ngày mồng một (kể cả đến nhà thầy tây, thường là cả lớp cùng đi, lớp trưởng đứng ra đọc một bài diễn văn soạn sẵn). Học sinh nghèo, hầu như chả bao giờ tặng thầy cô ta, thầy cô tây cái gì, chỉ có tấm lòng, tuy vậy thầy cô giáo cũng rất quý và cảm động! Đó cũng là nét đẹp mà sau này học sinh Hà Nội vẫn còn thực hiện mãi, nhưng đến bây giờ thì đã bị “mất chất”-thành ra cái cảnh phụ huynh phải đi “Tết” thày cô hộ con, từ trước Tết rồi. Thật là “phú quý giật lùi” phải không các bạn?

Ảnh: chợ Tết ở Huế xưa (sưu tầm trên mạng)

Xem và bình luận tại đây: https://www.facebook.com/namhhn/posts/1003568943038376

Ý kiến không được cho phép