NGƯỜI VIỄN ĐÔNG

Nơi chia sẻ và lưu giữ các bài viết của Nam Nguyen

BẠN HỌC Ở HUẾ CỦA TÔI

(Viết theo lời kể của ông Lê Tâm tức Nguyễn Hy Hiền, xin lượng thứ nếu có những thông tin chưa chính xác lắm vì ông không được khỏe hẳn và đang kể về thời kỳ xa xưa những năm 1930-1940)

 

Nhà tôi ở rìa thành phố Huế, thôn Niêm Phò huyện Quảng Điền, cách thành nội hơn 10km thôi nhưng ngày trước đi lại mất cả buổi, nhiều lúc phải đi đường sông thế nên muốn học hành tử tế gia đình cho tôi vào Huế để học. Tôi ở nhà ông anh cả tên Xước, cả người anh thứ ba tên Đơn cũng sống chung tại đó. 

Tôi đi học trường Paul Bert (tên nhà toàn quyền Đông Dương đầu tiên) cấp 1 ở Huế, phải đóng học phí, học giỏi thì không mất tiền nhưng thi vào (chọn theo hồ sơ - ngoài Paul Beert có 6 trường nữa, trong đó có 4 trường dạy bằng tiếng Pháp). Trường chỉ dành cho con trai, từ lớp 2 bắt đầu học tiếng Pháp. Học nghiêm từ bé, điều lệ là không được đánh học sinh nhưng có những thày cả Tây cả ta vẫn bợp tai, gõ vào đầu, lấy thước quật vào tay... nếu học sinh phạm lỗi. Học sinh ngay từ lớp 5 bắt đầu thành thạo tiếng Pháp ở mức có thể viết luận văn (lớp 5 mới hết tiểu học, nhưng thời đó trường nào cũng có 2 lớp 4!?- bởi vì lúc đó bắt đầu học tiếng Pháp rất kỹ). Tôi vẫn nhớ một đề luận như vậy phải viết bằng tiếng Pháp: “Hãy tả một ngày anh bỏ học đi chơi!”. Bắt đầu có các cuộc thi tiếng Pháp giữa các trường. Năm thứ sáu chủ yếu do thày cô người Pháp dạy, có một thày Việt dạy luân lý bằng tiếng Pháp, và thày Việt “chủ lực” chỉ dạy riêng cho lớp cuối – chính là người anh thứ ba của tôi Nguyễn Hy Đơn (tiếng Pháp, vũ trụ học, vệ sinh thân thể, luân lý, hát tiếng Pháp các bài của hướng đạo sì-cút...). Sau này anh được chọn để trở thành thày giáo dạy riêng cho thái tử Bảo Long trong cung vua, câu chuyện cuộc đời anh tôi xin kể lúc khác.

 

Thời đó tốt nghiệp lớp 5 đã đủ trình độ có thể đi làm thầy thông, thầy ký, giáo viên trường làng (“thầy trợ Vịnh” chẳng hạn, chính là tên gọi thời đó trước khi đi làm cách mạng của anh Nguyễn Chí Thanh – một người anh họ trong họ Nguyễn lớn ở quê tôi), nuôi được cả gia đình, học sinh thời đó hết lớp 5 chững chạc lắm, thậm chí đã có thể lấy vợ...


 Ảnh: Lê Tâm và Hà Văn Lâu, 2013, tp HCM


Anh Hà Văn Lâu học cùng Paul Beert với tôi và sau này anh đi vào con đường ngoại giao, dù khác ngành tuy nhiên nhiều lần chúng tôi có dịp đi công tác cùng nhau, hoặc khi anh làm đại sứ ở Cuba hay Mexico -LHQ thì tôi sang đó ở cùng hàng tháng trời. Anh sống rất thọ và đây là bức hình lần cuối tôi tới thăm anh tại Sài Gòn mấy năm trước.

 

Muốn vào lớp 6 phải thi vào trường “cấp đệ nhị” – Huế cũng có vài trường, 4 trường công, Quốc học Huế là trường giỏi nhất, ngoài ra có Thiên Hựu, Nhà Dòng, Đồng Khánh, Hà Thúc Chính... và học sinh giỏi khắp các nơi đổ về để thi vào Quốc học thế cho nên lựa chọn rất khắt khe. Thi tất cả các môn, gần chục môn đấy: vài môn viết, thi miệng còn nhiều hơn (ngày xưa thế này gọi như là thi “hương”). Bố tôi trước kia làm hiệu phó Quốc học Huế đầu tiên, nhưng hồi tôi vào trường thì bố tôi đã về hưu lâu rồi. Thế nên tôi cũng như đa số các bạn trong lớp ở nội trú (cho rẻ và học được nhiều hơn về nhà) – có thể vì vậy tôi nhớ kỹ các bạn Quốc học hơn.

 

Quốc học mỗi năm nhận 4 lớp, mỗi lớp khoảng 25 người. Có 2 chế độ: ở tại trường và ở ngoài (phải có tiền mới được ở ngoài). Ai muốn ở tại trường phải thi đạt chuẩn mới được, vì chỗ ở có hạn. Ở lại tại trường mỗi lớp ở một phòng ngủ, ăn có căng-tin 3 bữa, 6 ngày học/tuần; cuối tuần nếu không bị phạt thì có thể được ra ngoài (ai nhà gần thì về). Cuối tuần tôi dù có ra ngoài cũng phải ở lại nhà ông anh cả tại Huế chứ không mấy khi kịp về nhà ở quê. Được ăn no, có cá, trứng, thịt... khá đầy đủ. Dậy 6h sáng, học 2 buổi sáng và chiều, trưa được ngủ 1 tiếng, tối tự học 2 tiếng (nhưng có giám thị tuy không dạy nhưng nhắc nhở trật tự để không ồn ào, cấm làm việc riêng, nhắc ngày mai cần chuẩn bị gì...). 3 tháng hè tôi mới được sống ở quê, mặc dù nhà ai có điều kiện thì nhiều khi không cho trẻ em về quê mà bắt ở lại Huế để thuê thày, tìm lớp học thêm tiếng Pháp, toán... dù trường không bao giờ tổ chức dạy thêm.


 

Quốc học học hoàn toàn bằng tiếng Pháp, có nhiều cô giáo Pháp (ví dụ cô giáo Pháp dạy vẽ, dạy viết, dạy lý hóa...). Các môn khác do thày giáo Pháp dạy học hoặc thầy Việt dạy bằng tiếng Pháp (thậm chí môn viết chữ nho, thể dục thể thao cũng bằng tiếng Pháp). Kỷ luật rất nghiêm. 6 năm Quốc học (nhưng không đánh số thứ tự nh�� 6-7-8... mà gọi theo tiếng Pháp, đại loại “tú tài”). Hết 1o năm học thì thi “tú tài 1”, còn 11 năm thì thi “tú tài 2” hay tú tài “toàn phần”, sẽ được học “cử nhân” (đại học). Tôi xong “tú tài 2” mới được học bổng đi Pháp học, quá trình đó thì đã kể rồi... Có thi trong lớp hàng tháng, cuối kỳ, cuối năm học trò thi với nhau cũng chỉ trong lớp thôi để xếp thứ hạng. Ai thứ nhất là nhận danh hiệu “major”, ai nhì là “second major”. Cuối năm major được thưởng, thường là sách, cả xích lô chở sách mới hết. 11 năm thì có 10 năm tôi đạt “major” mặc dù ít tuổi hơn các bạn, học mất tiền, không nhiều lắm - ăn ở tại trường mất tiền nhưng phải thi đạt chuẩn mới được ở, major thì được đài thọ ăn ở toàn phần, nên tôi cũng không nhớ nếu không là major phải đóng tiền trường bao nhiêu nữa. Tuy vậy các bạn cùng lớp với tôi đều rất giỏi, có những cuộc đời đầy cống hiến và những thành tựu mà tôi cũng lấy làm tự hào thay được làm bạn với những nhân vật như vậy! Không nhớ hết được trong lúc này, tạm kể về các bạn:

 

Anh Đồng Sỹ Hiền – người Huế, cùng tên xin kể đầu tiên, vì cùng tên nên thi cử chúng tôi hay ngồi gần nhau. Sau này anh Hiền làm luận án tiến sỹ bên Liên Xô đợt sớm nhất, giáo sư lâm nghiệp rồi làm Viện trưởng viện nghiên cứu lâm nghiệp, vợ cũng học sinh Đồng Khánh, rất thân với gia đình tôi.

 

Anh Thái Văn Trừng – quê Quảng Trị, người anh em cọc chèo với anh Đồng Sỹ Hiền – là tiến sỹ đầu tiên được cấp bằng tại CCCP nói chung (anh là tiến sỹ về ngành lâm nghiệp), sau này làm Giám đốc Bảo tàng thực vật TP HCM. Gia đình anh một thời gian dài sống gần cạnh nhà chúng tôi ở Hà Nội. Anh là người có công lớn nhất trong việc khôi phục rừng sau chiến tranh hóa học tại miền Nam, được Giải thưởng HCM năm 2000.

 

Anh Lê Khả Kế - quê Hà Tĩnh, học rất giỏi, làm 24 cuốn từ điển chất lượng tốt, đã từng dạy học ở Hà Tĩnh, Hà Nội và xây dựng Viện Ngôn ngữ, cuối đời sống ở Huế, cán bộ Đảng Xã hội. Tôi có gặp lại tại Huế khi ông Kế đến thăm ông Nguyễn Xiển đang công tác qua Huế cũng đúng lúc tôi có mặt ở quê nhà.

 

Anh Trần Quốc Nghệ - quê Hà Tĩnh, vô địch Trung Kỳ về box rồi vô địch Đông Dương hạng lông – “nỗi kinh hoàng của thành phố Huế”. Sau này tôi có gặp lại anh tại Hà Nội. Anh sống ở Nghệ Tĩnh, cả đời dạy học, biết 4 ngoại ngữ.

 

Anh Trương Công Cừu – “lưỡng bộ thượng thư” rồi thủ lĩnh đảng Việt Nam Nhân xã thời ông Ngô Đình Diệm. Cùng thời sinh viên bên Pháp với tôi, học Sorbonne về văn học, tự túc. Dịch Kiều, Chinh Phụ ngâm... là giáo sư văn chương và giảng dạy tâm lý.

 

Anh Hồ Tống – quê Nghệ Tĩnh. Sau này thứ trưởng Bộ Giáo dục.

 

Anh Nguyễn Văn Thương – hồi đó mới thấy anh đánh măng-đô-lin chứ chưa hé lộ tài nhạc gì đặc biệt, có lẽ vì môi trường này học văn hóa nhiều quá. Nhưng anh nổi tiếng nghịch ngợm nhất lớp... Sau anh làm giám đốc Nhạc viện Hà Nội, hay cho tôi vé xem các buổi nhạc cổ điển.

 

Anh Cù Huy Cận – văn thơ rất giỏi, thường hơn tôi về các bài luận tiếng Pháp. Sau này anh và Xuân Diệu tới dự lễ cưới của vợ chồng tôi đầu năm 1957 – chúng tôi chủ trương không mời ai trong số các bạn bè vì sợ sẽ quá đông nhưng đây là do gia đình nhà gái mời.

 

Anh Nguyễn Tài Chất – quê Hà Tĩnh, là anh trai của Nguyễn Tài Cẩn - học rất giỏi, luôn tranh đấu vị trí “major” với tôi trong 11 năm học cùng. Rất đáng tiếc là sau này ra Hà Nội ông bị Pháp bắn nhầm nên mất sớm.

 

Anh Nguyễn Thúc Tư – giỏi về toán và lý, quê Nghệ An. Sau làm cố vấn của bộ giáo dục tại Huế.

 

Anh Trần Quỳnh – quê Quảng Trị, rất nghịch ngợm. Anh theo cách mạng từ sớm, sau này giữ nhiều vị trí lãnh đạo trong chính phủ và quốc hội, ví dụ Chủ nhiệm Uỷ ban Khoa học nhà nước tức là thủ trưởng cấp trên của tôi trong nhiều năm.

 

Anh Hoàng Đình Phu – quê Quảng Ngãi, cũng làm về quân giới như tôi và sau cũng là cấp phó cho anh Quỳnh ở Ủy ban Khoa học nhà nước.

 

Anh Trần Văn Du – một trong những trí thức từ Pháp trở về mà tôi đã đề cập nhiều. Học hết tú tài một anh sang ban Triết nhưng sau cũng thi cả toán, cả triết như tôi. Sang Paris học về vệ sinh dịch tễ, con rể cụ Thái Văn Toản. Là người đóng góp nhiều cho viện Pasteur ở Sài Gòn.

 

Anh Hoàng Xuân Tùy – Quảng Trị, khi đi học tên là Hoàng Tiêu Diêu. Sau này hiệu trưởng trường Bách Khoa Hà Nội, thứ trưởng Bộ Đại học.

 

Anh Tố Hữu (tên lúc đó là Nguyễn Kim Thành) học với tôi được hai năm thì vì gia cảnh anh phải chuyển trường. Lúc học anh cũng tranh đua với tôi vụ “major” giữ lắm, và một lần tôi với anh thi nhau chạy lên đỉnh núi Ngự Bình xem ai nhanh. Tôi chạy mất 32 giây, anh Thành chạy mất 31 giây – đó là kỷ niệm sâu sắc nhất giữa anh và tôi mà sau này rất nhiều lần chúng tôi còn nhắc tới.

 

Lớp tôi đặc biệt có 6 cô gái học cùng, đều ở ngoại trú: Phan Thị Miến (sau này vợ ông Võ Thuần Nho), Võ Thị Thể (Hội trưởng hội phụ nữ cứu quốc), Harter (người Pháp, chúng tôi gọi là “đầm”), Lê Thị Dung (sau thành vợ thày Nguyễn Thúc Hào - giáo sư toán đầu tiên), ... họ học xong được về nhà chứ con trai chúng tôi cấm trại cả tuần, ngày học không được đi đâu.

 

Phải nói là thời chúng tôi dân ta còn khổ lắm, ví dụ như tôi mang tiếng là con nhà quan lại mà đến lớp 10 chưa mặc áo len bao giờ mặc dù ở Huế khí trời mùa đông rất lạnh lẽo. Ăn mặc quần dài áo dài (tiểu học) áo sơ mi quần tây (quốc học) hoặc đồ ta thì không bắt buộc – không phải ai lúc nào cũng có sẵn đồ âu mà mặc đâu. Chúng tôi toàn đi  guốc (bản thân tôi qua Pháp mới biết đi dép là thế nào). Nói thế để thấy cháu chắt bây giờ được ăn học điều kiện tốt thế nào, không học ra hồn thì lỗi tại “thừa” chứ không phải tại “thiếu thốn”.

 

Nghĩ lại chuyện đời của lứa học trò chúng tôi cũng thấy có những “quy luật” hay hay. Như tôi ham học nhất (chứ không dám nhận là giỏi nhất đâu) thì lại không có bất cứ bằng cấp gì đặc biệt. Chúng tôi đa số đều làm những ngành mà không ngờ tới nhất, nhất là ở những vị trí, thời điểm bất ngờ nhất của lịch sử. Tuy vậy nhìn lại vẫn thấy học vẫn là việc vô cùng cần thiết – nhất là những năm đầu đời – chính vì được dạy dỗ tử tế nhất thời đó nên tuyệt đại đa số chúng tôi đều đã thành người và không có gì phải hối hận với đời và với nhau cả.  Xin mượn thơ người bạn Huy Cận để nhớ về thời học ở Huế:

 

                “Tuổi nhỏ đời ta Huế giữ không?

                Cho ta xin lại những năm hồng

                Cho ta sống lại ngày xưa cũ

                Mới hái mùa thơ giữa độ bông

 

                Tình bạn tình yêu Huế khéo ương

                Hoa xuân trái đậu tháng năm trường

                Bâng khuân nay nhện chiều giăng lưới

                Bảng lảng lòng ai Huế vấn vương...”

 

Cuộc đời là vô thường...