NGƯỜI VIỄN ĐÔNG

Nơi chia sẻ và lưu giữ các bài viết của Nam Nguyen

TÌNH NGƯỜI MỘT THUỞ-P.3

TÌNH NGƯỜI MỘT THUỞ-P.3

(Tiếp theo của:
https://www.facebook.com/namhhn/posts/991507660911171… 
https://www.facebook.com/namhhn/posts/1065968006798469 )

Hôm nay tôi mới được gặp anh Vũ Trọng Huyên ngoài đời - người được bà con thân quen ở Thanh Hóa đang gọi trêu là “người nổi tiếng nhất Việt Nam”. Cũng có phần đúng, vì khi nhà đài VTV1 phát sóng chương trình có nội dung để tìm ra người sinh viên Việt Nam từng ở Moscow (Nga) với tên gọi như thế thì đã có tới 30 cuộc gọi để giúp tìm ra anh-một kỷ lục của chương trình đấy- trong đó cuộc gọi quan trọng nhất dĩ nhiên là của ...chính anh! Anh đã được báo trước tuy vậy vẫn vô cùng hồi hộp và xúc động, và tôi thấy anh vẫn xúc động cho đến tận ngày hôm nay-5 ngày sau khi chương trình trực tiếp lên sóng.

Nhưng tôi cũng muốn làm rõ băn khoăn của khá nhiều người, nhất là những người khá trẻ có đọc status của tôi về anh- băn khoăn “bác này từng ấy năm đi đâu mà bỏ mặc vợ con tây, chả chịu tìm gì cả...”Cùng là anh em cùng cảnh ngộ một thời bên Moscow nên tôi đã hỏi anh không hề ngại ngùng, và đây là câu chuyện chưa đầy đủ về cuộc đời chìm nổi của người cha-tôi mong sớm có ngày chính anh sẽ lại kể lại cho những đứa con với người vợ Nga của mình sau 31 năm xa cách..

Anh Huyên sinh năm 1950, người Như Thanh (gần cách Nông Cống 10 km), Thanh Hóa là một vùng cao nơi có vườn quốc gia Bến En. Anh đi lính từ 1969, là quân của sư đoàn 304 nổi tiếng với những trận đánh căn cứ Khe Sanh. Anh là dũng sỹ diệt Mỹ với nhiều huy chương, cũng “cao số” (tôi không dám dùng từ “may”) nên tuy thương tật vĩnh viễn đến 85% nhưng vẫn ra quân xong thi đậu đại học Tổng hợp Hà Nội. Sau năm thứ nhất anh được chọn đi học nước ngoài, lại qua một năm dự bị Thanh Xuân anh được phân đi Liên Xô, sau một năm dự bị Kiev anh được là một trong 5 sinh viên chuyển lên học tại ngôi trường danh giá MGIMO (Đại học quan hệ quốc tế) ở thủ đô Matxcơva. Là lính cũ, lớn tuổi hơn các bạn cùng năm, đảng viên, học khá...anh đã từng có lúc làm đơn vị trưởng, sớm được các bác ở Đại sứ quán đánh giá cao và bác Vũ Khoan thời đó hay lôi đi phiên dịch giúp cho các đoàn trong nước sang công tác...có thể nói anh Huyên thuộc diện “hạt giống đỏ” thời bấy giờ. Chưa kể là anh lại cao 1m78, nặng tới 90kg - thật sự là “hiếm có khó tìm” trong lứa sinh viên Việt thấp bé nhẹ cân thời đó, có thể nói cả theo nghĩa đen và nghĩa bóng, anh Huyên thực sự là người nổi bật...

Có những chuyện ít ai biết, trừ ông bạn thân nhất là anh Hòa, hay các anh đã làm cán bộ đơn vị như anh Thọ, anh Chiến...Anh rất khỏe, nhưng anh vẫn đang ốm, chưa nói đến những mảnh đạn vẫn còn nằm trong cơ thể anh. Ý thức được mình là người bệnh, anh đã nhờ đến mối quan hệ ở Viện hàn lâm khoa học để chuẩn đoán và chữa bệnh, nhưng không thuyên giảm (một số bệnh ngày nay là bệnh thông thường, nhưng thời đó chưa chữa được!). Thế rồi tình yêu với một cô gái Nga bùng lên dữ dội, một điều cấm kỵ gắt gao thời đó đối với sinh viên Việt, sau khi tốt nghiệp anh chỉ có hai lựa chọn: về nước tiếp tục con đường “hạt giống đỏ” hay tình yêu. Và chàng trai Thanh Hóa đã chọn tình yêu...

Vợ đẻ đứa con trai đầu lòng, anh Huyên làm mọi việc để xoay xở với cuộc sống thủ đô. Đến khi vợ có chửa đứa con thứ hai thì anh và hai anh bạn nữa bắt đầu “làm ăn lớn”-đánh hàng từ Pháp qua Ba Lan về Liên Xô. Năm 1985 anh bị bắt ngay tại cửa khẩu Brest khi mới quay lại lãnh thổ Liên Xô, nguyên nhân không phải vì việc buôn bán kia mà chính là chuyện “vợ tây”. Hai nhân viên KGB áp tải anh bay lên Moscow, từ đó chờ chuyến bay bay về Hà Nội, dù anh van nài hết nước chỉ xin gọi cho vợ con một cuộc điện thoại 2 cô-pêc thôi mà không được phép. Về tới Hà Nội anh nhanh chóng được thả ra sau khi nhận được một suất cơm gồm lưng bát cơm hẩm mà anh quá đắng lòng nên cũng không nuốt nổi, đành cho lại tay gác cửa-hình ảnh lưng bát cơm này theo ám ảnh anh suốt những năm tháng về sau, cho tới bây giờ...

Lại trở về quê mẹ với hai bàn tay trắng và chẳng có giấy tờ gì anh Huyên gom được chút tiền từ những đồ đạc đã gửi được về nhà trước kia để tìm cách liên hệ với vợ. Thời đó cách liên hệ nhanh duy nhất là ra Bưu điện Bờ Hồ gọi quốc tế, nhưng giá đắt kinh khủng! Họ đã bao lần khóc với nhau trên điện thoại, nhất là khi cô bé gái ra đời mà anh chưa hề được thấy mặt, chỉ biết mẹ nó đặt tên Julia. Anh giải thích, anh van nài cô vợ, rằng bây giờ cách duy nhất anh có thể làm để quay lại được với vợ con, là phải “đi làm”-mà anh không có bằng cấp lại đã nhiều tuổi thì chả có chỗ nào tử tế mà đi làm được, tất cả đều sẽ khổ, hãy gửi về cho anh tấm bằng đại học rồi anh mới tìm được cách quay sang. Còn cô vợ thì vừa khóc vừa nói với anh câu nói mà anh cũng sẽ nhớ suốt đời: “Tấm bằng này là thứ duy nhất bây giờ níu giữ anh bên mẹ con em. Em thề sẽ yêu anh suốt đời, yêu đến khi tóc bạc thì thôi, nhưng tấm bằng này em không gửi cho anh đâu, em không muốn mất anh!”. Và rồi đến một ngày anh gọi nhưng số điện thoại kia không có ai nhấc máy nữa...

Kiến thức tiếng Nga và tiếng Anh giúp anh đi làm phiên dịch, lúc đầu thì dịch cho chuyên gia Nga ở thủy điện Hòa Bình, sau thì vào tận Vũng Tàu-nghề phiên dịch thời đó cho anh đủ “cơm ăn” nhưng với người còn phải lo thuốc men như anh thì thậm chí “áo mặc” cũng là điều xa vời. Một bệnh ngày nay tưởng chừng dễ chữa như sỏi thận thời đó đã suýt giết chết anh! Anh quay về TP HCM để vừa làm vừa chữa bệnh, nhưng bệnh tình đã quật ngã anh hẳn. Anh lại chỉ còn con đường về quê Thanh Hóa trong trạng thái tưởng chừng vô phương cứu chữa, gia đình đông người nhưng không phải ai cũng dang tay ra đối với kẻ “ngã ngựa” như anh! Anh kể có những đêm anh ra nghĩa địa ngồi một mình bên ngôi mộ người em mới mất, tâm sự từ đêm cho đến bình minh thì mới về-và đến giờ anh vẫn nhớ là những lúc ấy không hề có một con muỗi nào đốt anh cả!

Gia đình giúp anh làm một việc sáng suốt nhất lúc đó: lấy vợ cho anh, và đó là một cô giáo cùng quê hiền dịu. Chính tình yêu của cô gái đó và những bài thuốc đông y đã cứu sống anh, anh lại tràn đầy nghị lực, và thề sẽ không đi đâu nữa khỏi nơi quê cha đất tổ, sẽ lập nghiệp cho những kẻ đã từng dè bỉu anh phải biết nghị lực người lính là như thế nào! Và anh mất 10 năm để tạo dựng lại sự nghiệp cho mình...

31 năm qua anh Huyên chỉ có một nỗi niềm đau đáu mà anh chia sẻ với vợ và sau này với con, là anh đã có một gia đình nữa, ở nước Nga xa xôi, mà ngoài mấy cái tên ra thì anh chẳng có bất cứ tin gì khác, kể cả một tấm hình! Bây giờ đã nhiều tuổi, là Phó chủ tịch hội cựu chiến binh Thanh Hóa anh ít đi đâu xa, mặc cảm những năm xưa làm anh cũng không giữ mối dây liên lạc nào nữa với những người bạn, người em đã từng học cùng trường đại học. Việc tìm anh, tìm chị anh giao cho hai người con nay cũng đã lớn khôn, ở Hà Nội và Vũng Tàu...nhưng cuối cùng chính cô con gái người Nga lại là người tìm ra anh. Người quen của anh làm ở PC46 Thanh Hóa đã báo cho anh, là đã có giấy đề nghị tìm ra anh từ chương trình “Như chưa hề có cuộc chia ly”-anh nghe mà như không tin vào tai mình nữa! Không ngờ chương trình lên sóng nhanh thế, đến anh còn chưa kịp chuẩn bị tinh thần, thì đã nhận được biết bao cuộc gọi của người quen trên khắp đất nước này chúc mừng anh, và anh cũng nhờ đấy tìm lại được những người bạn đã biệt vô âm tín ba bốn chục năm! Hầu như mấy đêm nay anh không ngủ được, chỉ nghĩ đến người con gái còn chưa trông thấy mặt. Hạnh phúc nhất là anh được sự ủng hộ tuyệt đối của người vợ và hai đứa con, cả nhà mừng cho “ông”-vâng, anh đã là người ông của hai cháu nhỏ, tuy thế hai ông bà vẫn sống bình lặng ở vùng cao Như Thanh-Thanh Hóa!

Hôm nay gặp anh, trước mắt tôi là một người đàn ông tóc bạc trắng, quắc thước, vẫn rất cao lớn và giọng nói sang sảng. Anh nghe tiếng Nga vẫn hiểu hết, tuy rằng nói thì khó khăn rất nhiều, vì ba chục năm nay ít dùng đến ngôn ngữ hội thoại. Anh bảo phải tranh thủ nói nhiều tiếng Nga cho nhớ lại, để hôm tới gặp con gái còn đủ từ ngữ mà nói với nó rằng từng ấy năm ròng anh không bao giờ quên mẹ con nó, và anh đã cố sống, sống tử tế để còn có ngày được gặp nó. “Nó” năm nay cũng đã 31 tuổi, và đang trên đường đến với người cha...

https://www.facebook.com/namhhn/posts/1068347949893808

Ý kiến không được cho phép