NGƯỜI VIỄN ĐÔNG

Nơi chia sẻ và lưu giữ các bài viết của Nam Nguyen

VÕ Ý

(Trích từ những bài viết về người Việt đã từng nổi tiếng ở Liên Xô)

Thuở nhỏ tôi cũng như tất cả lũ trẻ thời bao cấp khốn khó đó đều đã từng có ước mơ giởi võ – giỏi như các thần tượng thuở đó: các chú bộ đội đặc công, các chú trinh sát, các anh công an trong đội bảo vệ lãnh tụ, rồi các anh dũng sỹ miền Nam nào ra Bắc cũng được bọn tôi gán cho là “có nghệ”. Lũ trẻ chúng tôi khâm phục ra mặt những chú, những anh có võ, hồi đó tập võ và dạy võ lại còn bị cấm đoán đáng kể nên chúng tôi lại càng ngưỡng mộ truyền miệng những câu chuyện thực, nhưng qua lời kể của nhiều thế hệ đã phần nhiều là huyền thoại. Nào là một chú đặc công giỏi là tay không hạ gục nửa tiểu đội địch khi giáp lá cà như chơi, thế nhưng một chú bảo vệ lãnh tụ được chuyên gia Bắc Triều Tiên huấn luyện thì lại có thể ứng chiến và thắng được ba chú đặc công một lúc. Nào là trận đánh lịch sử diễn ra giữa ông lão người Hoa giỏi nhất Hải Phòng và anh Thắng con cụ H.M.Giám ngay tại Câu lạc bộ Đoàn Kết trước mặt Nhà hát Lớn – trận đấu kéo dài dưới sự quan sát của khán phòng chật cứng, cuối cùng với một cú đá vô cùng hiểm anh Thắng đã hạ gục được thần tượng của giới Ba Tàu miền Bắc. Nào là chú Thế Trường chuyên gia yoga cho phép võ sĩ nào thích thì cứ đấm thẳng vào bụng mình – một quả thôi – với tài của mình chú sẽ cho lục phủ ngũ tạng chạy đi chỗ khác để cú đấm như đấm vào chỗ trống... Thế rồi chưa được xem phim Lý Tiểu Long hay cảnh Mohamet Ali đấm đá bao giờ chúng tôi cũng tranh luận sôi nổi, nếu hai thiên tài này gặp nhau trên vũ đài thì ai thắng, còn nếu tử chiến ngoài đường phố thì không biết thế nào... Và có lẽ đứa nào cũng được người lớn hay mấy đàn anh truyền cho vào thế tấn, vài thế đấm, gạt, chém... để tập phòng thân, khí thế lắm. Sau 1975 khi được đọc truyện chưởng, truyện du đãng thả phanh thì phong trào võ vẽ lại có thêm luồng sinh khí mới thì phải, chưa rõ có tốt đẹp gì không nhưng các “quân khu” mọc ra như nấm, lũ choai choai chúng tôi cũng chia lãnh địa, choảng nhau ra trò, nhiều khi đẫm máu và oan uổng...

Võ sư thực sự mà tôi gặp đầu tiên là chú Y Nguyên, người Tây Nguyên, khi chú ra Hà Nội chuẩn bị đi nghiên cứu sinh ở Hung. Đã từng được nghe kể những trận tranh hùng của chú ở Tây Nguyên, Sài Gòn nhưng khi gặp mới thấy dưới vẻ bề ngoài hiền lành, đậm người là một tài nghệ thâm trầm và rất gan góc. Chú kể rằng tự học, rồi tìm thầy học nhiều môn phái, tự rèn thể lực, mặt mạnh nhất của chú là khả năng ứng chiến bất kể trong trường hợp nào. Thấy trẻ con chúng tôi cứ đòi xem biểu diễn chú mới ra vườn, có cay xoài thân to phải một người ôm, chú tung chân quất một cước, rồi vung tay chặt một nhát nữa vào dưới gốc, mà từ cành tới ngọn của nó rung bần bật mãi không thôi, tôi nghĩ nếu cố thì có khi chú phang đổ cây nhà tôi mất. Sau này sang Hung chú cũng nổi tiếng về võ nghệ, hình như cả nước Hung chỉ thua có một người bản xứ! Bây giờ lâu không được gặp, nghe nói chú vẫn rất giỏi nhưng đã nghiên cứu Phật giáo rất lâu năm, chỉ muốn được sang theo học Phật Pháp với Đức Đạt Lai La Ma 14 thôi...

Ở nước ngoài thời trước người Việt nổi tiếng là giỏi võ – tất nhiên có phần thêu dệt bởi việc ta đánh được cả Mỹ lẫn do tây xem nhiều những phim Bruce Lee, Jackie Chang... mà định kiến rằng chớ đùa với lũ Việt Nam, bé còi thế thôi mà có những đứa “kungfu” đầy người, chả biết đâu mà lần. Quả là cũng có những người biết võ thật – không nhiều lắm đâu, thường là mấy anh lính cũ đi học hay đã có “nghệ” sẵn từ nhà, chỉ sau một trận “va chạm” mà thắng tây thì nổi tiếng ngay. Nhưng cá biệt có những võ sư xuất sắc mà sau những trận thư hùng thì tây cũng phải ngả mũ kính phục – và với tính thích “kungfu” cũng như rất thích “tầm sư học đạo” thì tây rủ nhau tôn họ làm “sư phụ” – và thế là nghề dạy võ cho tây ra đời. Hầu như ở nước nào châu Âu cũng có những lò võ mà “sư phụ” là người Việt – cũng được coi là nghề rất danh giá trong xã hội. Có anh bạn tôi học trường quân đội nhưng vẫn thành “thầy” dạy võ cho tây, khi về nước chúng nó kéo lên thủ đô tiễn hàng đoàn. Nhiều người thành công ở nước ngoài lắm, như võ sư Nam Anh có trường dạy võ cả ở Pháp lẫn Canada, nay ở HCM tuy đã quá 70 lâu rồi nhưng đòn đánh vẫn đầy uy lực, học trò tây vẫn theo về tận đây để học trực tiếp với thầy, mặc dù ông nay chủ yếu đi làm từ thiện. Sài Gòn còn có anh Dũng “râu” dân trường Trỗi cũ, chỉ ở nhà thôi mà tây đăng ký về học theo giờ, một thầy một trò rất “tâm phục khẩu phục”. Còn nhiều anh tài võ học lắm... nhưng câu chuyện này tôi không định kể về họ, mà là một nhân vật khác.

Năm 1989 tại Đôm 5 – khu ký túc xá dành cho nghiên cứu sinh người Việt ở Matxcơva xuất hiện một nhân vật mà rất nhanh chóng cũng như anh Trí “Béo” sang trước đó 1988 lập tức trở thành “cây đại thụ” của giới làm ăn thời đó. Anh làm nghiên cứu sinh về ngành luật nhưng người Việt đồn nhau rằng tay này giỏi võ lắm đấy, ở nhà đã nổi tiếng rồi. Tôi thỉnh thoảng cũng qua đấy “đánh quả” – thời đó cả nước đi buôn, và phòng 620 của anh T.Long là một “phòng giao dịch” 24 giờ mở cửa. Chủ nhân thì có thể vắng mặt nhưng khách khứa thì chả bao giờ thấy ít hơn chục vị, tự chăm sóc lẫn nhau. Lúc nào cũng có hai, ba “tướng”, “soái” Ba Lan sang đấy ăn chực nằm chờ - chờ lấy đô, lấy vàng, chờ thu tiền hàng; vài vị thì trong nước mới sang, vài vị thì từ các tỉnh xa lên bán vàng, lấy đồng hồ... Lúc nào cũng mịt mù khói thuốc, lúc nào cũng có chai vodka đang mở trên bàn, và vài vị đang chén chú chén anh còn vài vị đang vào bếp! Hồi đó buôn bán tấp nập thế nên cộng đồng Việt cũng khá lộn xộn, trong số khách thập phương không tránh khỏi có những phần tử lừa đảo, cướp trắng trợn, thậm chí chỉ điểm cho tây để trấn lẫn nhau... thì anh T.Long sang bắt đầu ra tay “giữ trật tự”. Với người Việt không khó lắm, một là từ nhà anh cũng đã có tiếng là “thiên tài Vĩnh Xuân” rồi, mà ở Đôm 5 cũng có mấy đồng môn nhưng tôn anh làm “thầy”. Vài vụ va chạm thì bọn “bộ đội” cũng né Đôm 5 nhiều, nhất là những phòng của “đội hình” của anh.

Với tây thì phức tạp hơn, hồi mới ở trong nước sang có một đứa người vùng Kavkaz lại ở cùng tầng với anh rất hay khó chịu với người Việt, hay báo cho ban quản lý nếu có khách khứa tỉnh xa ngủ lại – điều này quy định không cho phép, mà phòng người Việt thì lúc nào cũng chật khách! Thế là anh hỏi han về chú “đầu đen” này, rồi một hôm chủ động sang chào nó nhân dịp mới sang . Hàn huyên chuyện trên trời dưới bể, xong sang chuyện võ nghệ. Tay Kavkaz bập ngay vào, thế là hẹn hò gặp gỡ thử tài. Hôm gặp gỡ, tay này kéo theo 3,4 võ sư, lại có cả m���t viện sỹ hàn lâm đáng kính dẫn đầu. Lúc đầu thì một chọi một, sau thì tất cả cùng vào một lúc. Mệt thì nghỉ. Có sức lại vào tiếp. Trận đấu kết thúc vào 4 giờ sáng và kết quả là vị viện sỹ đáng kính quyết định dành cho anh T.Long toàn quyền quản lý cái phòng tập – nơi trở thành kho đựng đồ, làm vàng... của hội Việt Nam sau này và tay Kavkaz không còn bẩm báo ban quản lý Đôm 5 nữa.

Anh T.Long con nhà lính, học võ bài bản từ thời phổ thông, thi đại học sang CCCP học luật tại Kishinhev (Mondavia) - một vùng yên bình nổi tiếng nhiều nho, lắm rượu – có lẽ anh “gắn bó” với rượu từ thời đó. 6 anh em Việt Nam học luật và hóa học góp gạo thổi cơm chung, thời đó vừa học anh vừa tranh thủ đi qua thành phố Kiev khá xa xôi để học thêm võ nghệ với mấy anh người Việt khác. Một lần khi đi nông trang lao động kiếm tiền mùa hè có đứa dân Nga vốn là lính thủy đánh bộ về cứ đòi tỷ võ với người Việt, anh Long đồng ý với điều kiện “người Việt chúng tao đã tỷ võ là đánh thật, chứ không chỉ múa may như tây các ông” – chú tây nhất trí và thế là mới khai cuộc chỉ với một cú đá anh Long đã cho chú tây gãy chân phải mang đi bó bột. Từ khi tây biết anh Long giỏi võ thì chúng nhìn mấy anh em Việt Nam nhỏ thó như là những “ngôi sao”, hết sức thành kính. Thế là bắt đầu sự nghiệp dạy võ của anh: học trò tây có đến hàng trăm, chúng cung kính khênh ghế xa lông vào giữa phòng tập, T.Long và mấy anh em Việt Nam rung đùi ngồi đó, học viên tây ngồi trên sàn, các đôi ra đấu tay không, mấy “thầy” Việt ngồi trên phán, xi-nê thế nào thì trong cuộc sống chắc cũng như thế! Sau thời sinh viên luật tại Kishinhev về Hà Nội năm 1980 anh lại tiếp tục luyện, thấy mình thiếu kinh nghiệm đối địch nên T.Long tự “thử lửa” bằng cách khá liều lĩnh: rủ bạn bè đêm đêm ra ga Hàng Cỏ tìm “va chạm”. Thấy mấy anh em trắng trẻo ngồi quán nước lại hút Malboro có tay giang hồ bặm trợn ra rút thuốc châm thản nhiên. T.Long bảo thuốc này của mình, không phải của quán đâu, thì lập tức tay giang hồ giở giọng: thuốc của mày nhưng mày nói năng không tử tế nên phải trả giá! Ai dè thấy mấy anh em mừng quá, chỉ sau khi lâm trận một tích tắc đã thấy gã giang hồ lăn quay, rồi lồm cồm dậy xin thua, xin mời các anh bữa rượu – gã cũng chả giấu là mới ăn cắp được cái xe đạp, bán được ba trăm, hồi đó to tiền lắm. Gã chỉ không thể hiểu được, cuối cùng cũng phải thốt ra: “Các anh giỏi thì giỏi thật, nhưng sau mười giờ đêm ra ga Hàng Cỏ làm gì, giờ này các anh lương thiện không thể ra đây, không có quyền ra đây, nơi này là thế giới của bọn em...”.

Một lần anh và ông bạn tên Trung đi tìm các cao thủ để tỷ thí, và thế là sau nhiều chiến thắng đến năm 1980 hai thanh niên T.Long và Trung đều bị bại dưới tay của một võ sư tên là Toàn. Tuy thắng nhưng anh Toàn rất thích sự ngang tàng của hai chàng trai trẻ, nên mới bảo “Các em muốn học võ cho giỏi phải đi gặp ông chú anh”, và thế là lần đầu tiên anh Long được yết kiến sư phụ. Thầy Quý là người trong giới nhạc, nhưng lại được học võ từ lâu rồi, và có lẽ là thầy tự nghiên cứu võ thuật thì đúng nhất mặc dù cũng là môn đệ của Vĩnh Xuân. Thế nào mà thầy Quý chọn Trung, chứ T.Long thì thầy không dạy – có lẽ vì anh “lãng tử” quá, mà nguyên tắc của thầy Quý là hạn chế dạy võ, sợ võ nghệ rơi vào tay của những phần tử xấu trong xã hội, mà anh T.Long thì nổi tiếng là quan hệ rộng! Thế là anh chả được học, cho tới một năm sau thì thầy lại gọi tới dạy, chắc là do anh Toàn và Trung cứ cố kỳ kèo, đại loại “Thầy ơi, Long nó trông thế thôi mà “nội dung” tốt lắm đấy ạ!”- đối với thầy Quý thì “nội dung” của con người mới là thứ cần quan tâm, chứ vẻ bề ngoài thế nào chỉ là vỏ bọc!

Thầy Quý nghiêm cẩn ngoài đời, còn đòi hỏi trong việc học võ lại rất khác người: võ sinh phải quên hết đi những gì đã được học trước kia! Học được một thời gian thì T.Long xin thầy cho nghỉ, lý do: thầy bắt em quên hết những cái đã học thì em xin nghỉ, để quên võ cũ, quên cả những thứ thầy mới truyền thụ, rồi sẽ học lại thầy từ đầu. Anh nghỉ một năm rồi mới quay lại với thầy, và rất nhanh chóng anh trở thành học sinh xuất sắc nhất của thầy Quý, hơn nữa những tư tưởng về võ học của anh và của thầy Quý khá là tương đồng – đó là nền tảng để anh phát triển tiếp sau này... Thầy Quý nghiêm cẩn đối với mọi người, kể cả gia đình bạn bè, thế mà lại khá hợp với cậu học trò lãng tử coi trời bằng vung này. Nhớ nhất việc thầy muốn mua một ô đất ở khu văn công Mai Dịch, giao cho anh T.Long đi tìm chủ đất. Anh mau chóng tìm ra nơi tay chủ đất sống, 2 thầy trò đèo nhau đến tận nơi thì thấy cậu ta đang ngủ chỏng khoèo, cái màn thì bám đầy mạng nhện, chứng tỏ tay này đại lãn chả bao giờ dọn dẹp nhà cửa. Tay này cũng dân văn nghệ sỹ, có nghe tên thầy Quý trong giới, lại thấy rất thích tính thầy, bảo thầy muốn mua giá bao nhiêu cũng được, hắn đều nhất trí. Thế là mua với giá mềm 2 cây, nhưng sau đó thầy muốn mua thêm một lô như thế bên cạnh thì bà chủ đất đòi đủ 4 cây mới bán, cuối cùng “ghét” nên chỉ mua một lô. Chứ không thầy Quý có dự định mua đất 2 lô để xây một cái chùa, rồi làm võ đường luôn...

Vĩnh Xuân theo kiểu thầy Quý là một dạng “võ thuật dưỡng sinh” – tức là không chú trọng đến dùng lực mạnh, nhanh mà dùng nhu thắng cương, dùng chính lực đánh của đối phương làm cơ sở cho cú đánh của mình. Nói thì dễ nhưng hiểu và làm được đúng như thế rất khó, T.Long thấm nhuần nguyên lý ấy rất tốt, và thế là năm 1985 được sự đồng ý của thầy Quý một vị đồng môn nhưng nhiều tuổi hơn lập ra một lớp võ để cho anh T.Long dạy – anh muốn kiểm chứng nguyên tắc ấy đối với các đối tượng học võ hết sức khác nhau. Và thế là một thực nghiệm bắt đầu: anh tuyển vào lớp từ phụ nữ chưa biết gì, đàn ông trí thức trói gà không chặt cho đến cả những nhân vật giang hồ mà dưới tay đang có mấy trăm đệ tử theo học võ, thạo dùng hàng chục loại binh khí! Tất nhiên đối với mấy vị “giang hồ” thì chỉ có cách thu phục duy nhất thôi: cứ “vào tay” với “thày Long” dù toàn những người kinh nghiệm trận mạc đã quá nhiều, vung tay là chặt vỡ đôi ba viên gạch ngon lành mà cứ ra đòn một cái là đã ngã quay lơ, trúng đòn mà chưa hoàn hồn hiểu được vì sao mình ngã! Mấy vị này khi theo học thường rất chật vật thời gian đầu, vì “buông bỏ” hết những thứ đã học mấy chục năm là quá trình dài và khó lắm... Thế rồi 89 anh Long sang lại Mátxcơva (CCCP).

Như đã kể trên, nhiều anh em bạn bè, sẵn quan hệ lại ở trung tâm thủ đô nên làm ăn dễ lắm, tiền cứ thế vào thôi, anh T.Long trở thành một trong những “soái Nga” đầu tiên thời đó. Làm gì thì làm chứ cuộc sống vẫn phải “bát ngát”, “tình thương mến thương” – xung quanh bao giờ cũng bạn bè anh em đông như trảy hội, chưa kể đến các bóng hồng ... Cũng có đôi lần nhiều người Việt có võ nghe đồn, đi từ tỉnh khác lên chỉ xin gặp được anh rồi thử tài, kết cục thì bao giờ cũng thế, đối thủ mới ra đòn đã ngã mà còn chưa kịp hiểu vì sao. Và từ đấy mọi người rất “ghét” anh một chuyện: đối thủ thường sau đó xin làm học trò của anh, nhưng toàn bị từ chối – anh bảo mình chả có đệ tử nào cả, chỉ có mấy anh chị em đồng môn thỉnh thoảng trao đổi võ học, vậy thôi! CCCP đổ vỡ và thay đổi chóng mặt, vận hội cũng nhiều mà nguy cơ cũng lắm. Cũng cùng nghiên cứu sinh, anh Ng.- một lính đặc công cũ - rủ T.Long đi đàm phán để thuê một địa điểm làm “ốp” (ký túc xá) mới cho bà con ta buôn bán, vào phòng gặp chủ nhà thì bọn maphia để sẵn 5 khẩu tiểu liên lên bàn hòng uy hiếp tinh thần. Thế nhưng với bản lĩnh con nhà võ, không bao giờ chịu khuất phục anh em Việt vẫn tiến hành đàm phán như thường, rồi sau đó xử lý thêm mấy vấn đề tế nhị của cộng đồng nữa - “Đôm 5 mới” đã ra đời!

Vụ chính quyền Nga cho cảnh sát đánh sập “Đôm 5 mới” làm rúng động cộng đồng Việt không chỉ Nga, Ba Lan mà có thể nói không ngoa, nó còn ảnh hưởng cả đến đời sống của hàng trăm ngàn người ở khắp nơi. Cũng mất mát kha khá trong dịp đó anh T.Long quyết định về nước, như anh em nói vui thời đó là “bảo toàn thành quả cách mạng”. Cuối 1995 anh về hẳn, và có lẽ đã chuẩn bị và nghiên cứu trước tình hình, anh T.Long cùng với mấy “anh tài” đã sống và làm việc với Đông Âu trở thành cổ đông một NHTMCP đình đám thời đó, với ngành kinh doanh ngân hàng cũng đang rất mới và “hot”. Vẫn phong thái kinh doanh như hồi bên Nga: tá lả tối ngày và vodka, cognac chảy như suối... Anh rất nổi tiếng và quan hệ rộng; đây có lẽ là lúc anh ít hoạt động võ thuật nhất, mặc dù cái lớp của mấy huynh đệ mở ra chục năm trước có anh về lại nhúc nhắc sinh hoạt trở lại. Anh vẫn qua thăm thầy Quý, trao đổi ý tưởng võ học với thầy, rồi Tết 1997 anh đưa tang thầy xong là đến kỳ nghiệp nạn lớn của anh – và cũng là dịp tôi có “duyên” với anh mặc dù trước đó đã biết nhau. Khi đó tôi có một công ty chả hoạt động gì, mấy anh cổ đông cần vay từ ngân hàng ra vài khoản tiền lớn bèn nhờ tôi đứng tên ký vay ở ngân hàng ra, chả rõ thực tế ai vay, ai thế chấp tài sản gì... nhưng anh Long bảo tôi cứ giúp đi, “đây là khoản anh phải chịu trách nhiệm đối với em”. Đối với tôi thời điểm đó đang khá trẻ và đã là anh em trong “giang hồ” nói thế là các đàn anh phải chịu trách nhiệm, uy tín là đây chứ đâu, nên tôi cứ yên tâm mà ký vay nhiều khoản. Chẳng bao lâu sau các ông anh “lên đường” hết cả lượt – mấy thằng em lúc đó mới tá hỏa khi hết ngân hàng rồi công an, tòa án.. sờ đến, hỏi những khoản tiền vay đi đâu hết rồi?!

Đây là một đại án ngân hàng rất lớn và sẽ còn nhiều bút mực viết về nó, dù có lẽ không phải lúc này. Chỉ biết ở bên ngoài tôi có một niềm tin rằng ai làm nấy chịu, và các “ông anh” không bao giờ đổ trách nhiệm cho mình về những khoản tiền mình không sử dụng. Có thể do số may, có thể do cộng phước của nhiều con người nhưng tôi thì chả hề hấn gì vẫn rong chơi tưng bừng bên ngoài, còn Anh T.Long và các “anh tài” khác sau một năm tạm giam lại lần lượt quay về với xã hội: không phiên tòa, không án, có lẽ cũng không lý do...

Quãng đời “nhập kho” thường chả có gì đáng khoe khoang hay tự hào, người đời thường muốn quên nhanh và chẳng bao giờ nhắc đến nhưng anh T.Long không ngại ngùng gì khi kể về nó – tất nhiên chỉ kể cho anh em bạn bè thân thiết với mục đích để cùng chiêm nghiệm cuộc sống muôn mặt này thôi, và võ nghệ nó cũng theo anh vào cả chốn tù đày ấy. Với cán bộ điều tra thì đơn giản rồi – “chưa hỏi đã khai xong” – anh trả lời luôn đầy đủ, dưới góc độ luật pháp là “ngành dọc” của anh rồi, chuẩn không thừa thiếu một chữ, cán bộ cứ việc ghi lại là xong, mà xong là chả còn gì mà hỏi nữa. Còn ở tù thì chắc chắn phải khổ rồi, nhất là mấy anh em trắng trẻo vào đó lập tức được toàn trại gọi là “tù án chữ” – làm gì có con số (năm kết án), mà chắc chắn chỉ có “tử hình” hay “chung thân” thôi (luật thời đó án kinh tế tử hình nhiều....). Bạn cùng xà lim là một tay bặm trợn quê Thái Nguyên, cứ ban đêm khi anh ngủ thì hắn lôi ra một mảnh sành để mài nghe rất ghê rợn. Biết hắn muốn đánh đòn tâm lý với mình, T.Long bảo nó: “Anh thấy mày cứ mài mảnh sành, cấm mày mài lúc anh ngủ nhé! Muốn đánh anh thì phải học võ đi, thôi anh dạy cho mày!”. Thế là cu em ấy mê tít, cứ thỉnh thoảng buồn quá anh lôi nó ra vừa dạy vừa “tẩn” cho vài trận cho đỡ buồn, được cái thằng cha ấy cứ bị lăn như bi nhưng chịu học. Anh ở tù cũng được nhiều ưu tiên, ví dụ được nấu mỳ ăn liền bằng “nước phích” – nóng hơn hẳn bọn tù chỉ có “nước bình” bị nguội. Anh sai chú kia sáng sáng nấu mỳ, khi chưa tập võ thì mỗi sáng ăn một gói, đã tập rồi mỗi người phải ăn 2 mới đủ. Anh bảo nó: “Anh lạ gì mày là zic, nhớ phải báo cáo cho tao thật tốt nhé”. Nó vâng dạ rối rít, rồi còn bảo: “Em báo cáo về đại ca siêu tốt, lại chả có tội tình gì, bị oan...”. Chả biết có phải vì báo cáo “siêu tốt” không mà chỉ mấy tháng nó lại bị chuyển đi mất, lại ông bạn tù mới vào thế chỗ, lại tập võ, đánh cờ... Lúc này tiếng tăm của anh đã cả trại biết rồi, chúng nó gọi anh theo kiểu giang hồ là “Sáu Võ” – buồng số 6, võ sư! Hết giám thị trại giam rồi đến tay Ph. trại trưởng nghe tiếng muốn thử tài anh, và đều được “tâm phục khẩu phục”. Anh được vài đặc ân nho nh cho cuộc đời ngục tù bớt đắng cay, ví dụ chỉ mình anh được hát sau 21h30, và thế là mình anh cứ nghêu ngao đủ các thứ bài nào còn thuộc được, kiểu như ngoài đời những lúc say sưa hay hát ấy:

“...Con sâu nó ngúc ngoắc anh đâu có dám bắt
Con sâu nó chết ngắc anh bắt cho em xem
Em ơi, em có yêu anh không?

...Công an nó có súng anh đâu có dám đánh
Công an nó mất súng anh đánh cho em xem
Em ơi, em có yêu anh không?...”

Rồi anh được đặc cách chỉ đóng một lớp cửa xà lim cho nó thoáng hơn, thế là có chỗ có thể thò tay ra ngoài. Anh T.Long lấy giấy báo xe lại làm một sợi dây dài, buộc một quả chanh vào đầu dây, thế rồi vận nội công vào cổ tay mà vung – anh vung rất xa và chính xác, muốn ném đến cửa xà lim nào là được hết. Thế là anh và các bạn tù muốn trao đổi thực phẩm hay đồ dùng gì thì buộc vào quả chanh ấy, ném ra xong anh lại thu về. Có lẽ cái năm tạm giam này lại là quãng thời gian êm ả nhất trong cả một quãng thời gian lăn lộn của anh chăng, và nó cho anh thời gian chiêm nghiệm về võ thuật một cách khác, sâu sắc hơn?

“Sáu Võ” ra tù trong niềm tiếc nuối của anh em bạn tù, ngoài kia biết bao đàn em, đệ tử đã chờ sẵn để đón “đại ca” về Hà Nội. Lại rượu tuôn như suối, trận cười thâu đêm... Nhưng có lẽ anh không còn như xưa nữa, T.Long lặng lẽ đi câu, có lẽ để cho tịnh tâm trở lại. Gần 20 năm trôi qua, tôi chỉ gặp anh loáng thoáng mấy lần, vẫn biết anh hay đi đánh golf, vẫn uống rượu “tít” như xưa, và chả còn quan tâm gì đến kinh doanh nữa...

Hầu như chả gặp lại nhau, tôi có nghe rằng anh vẫn luyện võ, dạy võ. Rồi khá là bất ngờ, thời gian cuối tôi mới biết một vài người quen của mình lại trực tiếp hay gián tiếp học võ của anh, mặc dù anh trước sau vẫn bảo là “không có học trò” nhưng họ một mực gọi anh đầy kính trọng là “thầy”. Bất ngờ nhất là một ông bạn đã biết hắn mấy chục năm, nay mới biết cũng là một học trò cứng cựa của “thầy T.Long”.

Thế là một ngày cuối năm tôi được đặc cách cho tham dự buổi tất niên – mấy học trò của chính cái khóa thực nghiệm từ năm 1985 đấy tổ chức tất niên mừng thầy T.Long. Ngoài anh Long và người bạn của tôi ra thì còn mấy gương mặt chính vì họ và nhờ có họ anh đã kiểm chứng nguyên tắc võ thuật của mình: một “cụ” U70 được phong làm “anh Hai”, còn lại đều U60, U70 hết, anh Long thực ra trẻ hơn đa số những học trò của mình mà đã hết 30 năm rồi vẫn chưa được anh coi là “đệ tử”. Một chị phóng viên, một anh thư sinh nhỏ bé, một bác giang hồ gác kiếm, một tay đàn guitar, một gã chủ quán béo trục béo tròn... Điểm chung của họ là đều uống rượu như thần (cái này có lẽ “công trạng” của thầy Long?), trẻ hơn rất nhiều so với tuổi của mình, và nhìn họ chả ai nghĩ họ là người luyện võ, là những người có thể bất cứ lúc nào “vào tay” với bất cứ ai muốn đến khảo thí võ công! Sau những câu chuyện “ôn nghèo kể khổ” giữa anh em bao năm không gặp, biết tôi là Phật tử và cũng rất tò mò về võ công của mình, anh Long kể:

-Đây thực sự chả có tên gọi chính thức, về nguyên tắc thì là “dưỡng sinh” hay đúng hơn là “võ ý” – ý thức sẽ mạnh hơn tay chân, quyền cước. Nó chả có chiêu thức gì cả, chỉ có điều cơ bản là con người chúng ta luôn phải giữ được “cân bằng” dù trong hoàn cảnh nào, dù đối thủ ra đòn gì. Mình xác định tham chiến không phải để thắng địch, còn họ sai, họ muốn đánh thắng ngay ta, ra đòn cho thật mạnh thật nhanh... đấy là chính họ mất thăng bằng, và họ sẽ thua chính họ thôi. Như dòng nước mềm mại thì chẳng sợ hòn đá hiểm trở nào, ở đây ta cần càng “lỏng” càng tốt, càng “lỏng”, càng “tĩnh” thì càng dễ giữ cân bằng và chế ngự “động”, và ngay trong ý niệm của ta cũng phải như thế: phải “thả lỏng” tức là phải “buông xả” được như trong Phật Pháp đấy! Hiểu được đã không dễ, hiểu mà thực hành được, “buông xả” được khó lắm, thế cho nên phải luyện, các anh chị ở đây cũng luyện hàng mấy chục năm trời mới thực hành được phần nào, tức là “ngộ” ra đấy. Mà đã tịnh tâm được, đã ngộ ra được thì ý thức đến với ta rất nhanh: như công tắc ấy, cứ trạng thái “bật” hay “tắt” hầu như không có độ trễ, trong khi đó hành động gì ví dụ ra một cú đánh mà muốn “thôi” thì giỏi mấy cũng vẫn có quán tính, không thôi tức thời được... “Võ ý” là như thế đấy!

Đến đây tôi lại chợt nhớ tới “Tiếu Ngạo Giang Hồ”, khi trước Lệnh Hồ đại ca với Linh muội nghĩ ra “Xung Linh kiếm pháp” rồi chỉ người này đọc tên thế kiếm này, người kia đọc tên thế kiếm khác để hóa giải – không cần đánh đấm thật - đã là giỏi lắm rồi. Sau này Lệnh Hồ Xung còn luyện đến độ “vô chiêu thắng hữu chiêu” thì có phải chính là trạng thái như “võ ý” mà anh Long đề cập đến ở đây không?

Về thắc mắc lớn nhất của tôi, anh bảo: “Tất nhiên uống rượu chả tốt gì cho võ đâu, nhưng vì chưa gặp đối thủ nào xứng tay đến mức phải bỏ rượu mà luyện cho giỏi hơn nên vẫn uống...”. T.Long nói anh không có đệ tử thực sự, vì nguyên lý thì như thế rồi, anh cũng có hướng dẫn thêm cho vài lớp đàn em khác nhưng có lẽ đây là những người gần gũi với anh về võ học nhất, và nếu một ngày đẹp trời bất cứ ai mà “ngộ” ra được hơn anh nữa thì sẽ còn giỏi hơn anh. Phật Pháp vô biên, anh cũng có được nghiên cứu sâu đâu, anh cũng đang học mà (nhưng tôi bảo với anh là anh có cơ duyên với Phật Pháp, anh càng cảm nhận được tốt hơn về nó anh sẽ càng giỏi hơn trong võ học!). Còn bây giờ anh ít khi “vào tay” với người ngoài lắm, những lúc bắt buộc phải tỷ thí anh hay quay lưng lại chờ đối thủ ra đòn – không phải anh coi thường họ, anh có muốn thắng họ đâu, nhưng anh cũng muốn học chứ, mà như thế thì phải đưa mình vào điều kiện khó khăn một chút! Bây giờ đâu có ai còn ra ga ban đêm nữa...

Trước khi chia tay mấy học trò anh cho tôi biết sắp tới họ sẽ mở lớp dạy dưỡng sinh cho trẻ con từ những lứa tuổi bé nhất, hoàn toàn miễn phí, tất nhiên “thày” Long phải đồng ý rồi. Mong muốn của Bác Quý mà anh Long chưa làm được là phổ cập hình thức vận động này cho trẻ con để chúng có thể dẻo dai về thể lực đồng thời phát triển được trí lực, luôn giữ được cân bằng, được chuẩn bị để có thể đương đầu với mọi thử thách của cuộc sống ngoài xã hội. Trẻ con như những búp măng, chúng cần vươn thẳng, muốn học được những kiến thức khác thì đầu óc chúng cũng phải được tập, sao cho “sáng” mà lại “tịnh” được. Tôi hiểu có lẽ đây lại là một cuộc khảo nghiệm mới, có thể kéo dài mấy chục năm cuộc đời ấy chứ. Và tôi biết mấy đứa bé nhà tôi sẽ học môn “võ ý” như thế - học võ không phải để nhăm nhăm chiến thắng đối phương...

Ghi chú: 
- anh Long đã quay trở lại với công việc luật sư của mình!
-anh Tùng - một bác sỹ nổi tiếng về chữa K, không hề có một miếng võ vắt vai - là người đang trông bàn thờ của bác Quý hiện nay.


Ý kiến không được cho phép