NGƯỜI VIỄN ĐÔNG

Nơi chia sẻ và lưu giữ các bài viết của Nam Nguyen

NHỮNG NGƯỜI THÀY ĐẾN TỪ THẾ KỶ 19 P.1 - Cụ TIỂU CAO NGUYỄN VĂN MẠI

P.1 - Cụ TIỂU CAO NGUYỄN VĂN MẠI (tự Lô Giang)  hay câu chuyện QUAN TRÍ

 

(dành cho người đọc chậm)

 

Lời nói đầu: Băn khoăn trước việc người ta dọa “tích hợp” mất lịch sử - “thầy giáo của cuộc đời”- mấy hôm nay tôi hay đọc gia phả dòng họ tôi để tìm hiểu thêm về ông cha mình. Một dòng họ bình thường ở Thừa Thiên, gia phả cũng không được nhiều đời nhưng may là ông nội tôi có tự viết một cuốn “Lô Giang tiểu sử” sau này khá nổi tiếng ghi về các sự kiện trong đời ông, bây giờ nhiều nhà nghiên cứu lịch sử thế kỷ 19 và 20 lấy nó để tham khảo, đối chiếu như một nguồn thông tin về thời đại đó. Còn “những người thầy đến từ thế kỷ 19” bởi họ là những bà con họ hàng của tôi đã sinh ra trong thế kỷ 19 nhưng để lại trong tôi và nhiều con cháu sau này những tấm gương khó có thể xóa mờ, họ là những “người thầy” của tôi! Có lẽ vì viết về những người cùng huyết thống sẽ khó và khó có thể hoàn toàn khách quan, nên mong có gì chưa chuẩn chỉ thì các bạn chỉ dẫn và cũng đại xá cho!

 

 

Cụ Nguyễn Văn Mại sinh ở tỉnh Thừa Thiên năm 1858, đúng vào dịp Pháp cùng ta bắt đầu khai chiến, bảy chiếc tàu tiến vào biển Trà Sơn. Cha cụ là ông tú tài (sinh 1828) đậu năm 19 tuổi, bà mẹ là con viện ngoại Bộ Lễ, họ Hồ. Mới sáu tuổi thì mồ côi cha - cha của cụ ra bắc đi học định thi cử nhân rồi mất tại huyện Thọ Xương, Hà Nội, nên cụ sống nhờ nhà ngoại để ăn học, cũng khá thiếu thốn. Từ 11 đến 15 tuổi toàn tự học vì nhà nghèo không được tới trường, sau mới được theo ông bác làm thục sự trong làng Mỹ Xá để lo củi nước và tranh thủ học. Cũng may người bố xưa kia bỏ nhiều công sức chép rất nhiều thi phú, sách luận, ngũ kinh… cất ở trên gác nhà nên cụ hay lấy ra đọc, khá bổ ích.  Đậu thủ khoa năm 19 tuổi giống người bố năm xưa, sau năm năm thì đậu phó bảng. Năm 25 tuổi, lúc đó đã bị coi là “cứng tuổi” nhưng cụ vẫn quyết học để thi cho bằng được thì một hôm đang thiu thiu ngủ chợt thấy có một ông già đầu bạc trắng, bịt khăn đỏ, cầm gậy trúc đi đến. Ông ngồi chơi trên ghế, rồi đọc cho môt câu rằng: “Nhứt tính chi điền quy ư nhất gia chi sở thủ. Nhứt gia chi điền quy ư nhứt nhân chi sở chú. Ô hô, nhân vị nhữ vô, ngô vị nhứ hữu”. Đọc xong ông cụ biết mất, còn cụ Mại ghi nhớ câu đó cả đời!

 

Năm 27 tuổi đậu Cử nhân thứ nhất (Thủ khoa). 29 tuổi từ bỏ việc “làm ruộng và đọc sách”, bắt đầu làm quan ở Bộ Lại. 2 năm sau thi Đình đậu Phó Bảng thứ nhì. Năm 35 tuổi được Kim Giang tướng công Nguyễn Trọng Hiệp là Chánh Sứ xin cho vào đoàn Sứ Bộ đi trình quốc thư tại Pháp, nhân năm ấy có cuộc triển lãm lớn ở Lyon nên đoàn ghé qua tham quan nữa. Đoàn xuất hành năm 1894 và để lại cho cụ rất nhiều ấn tượng khó phai mờ, người Pháp đón đoàn khá trang trọng, nhưng khó quên nhất là chứng kiến tận mắt vụ ám sát quan Giám Quốc Carnot khi chuẩn bị cùng đi xem triển lãm. Trong chuyến đi Pháp cụ viết được 2 tập hồi ký và một bản thơ nhạc mà sau này được người con thứ dịch ra để con cháu trong nhà đều thuộc lòng, gọi là “Châu Trung thỉnh nhạc”.

 

Sau chuyến đi Pháp có việc “dẹp đảng Phan Đình Phùng” ở trên núi bắc Hà Tĩnh, triều đình giao cho các quan Nguyễn Thân, Thái tử Thiếu Bảo, Tổng đốc Bình Phú hợp với Công sứ Đô-phi-nin đi đánh dẹp, đích thân ông Nguyễn Thân xin triều đình cho cụ Mại chức Quân Vụ Tư Hàn để cùng đi, nhưng cụ từ chối, bởi vì có nghe lời của cụ Phùng nói giữa Triều: “Căn bản mà lung lay thì tương lai quốc sự chưa biết thế nào…!”. Vì thế cụ Mại cáo từ, bởi lẽ “Ông Phùng không phải là giặc!”. Cũng may là có Kim Giang tướng công xin đỡ cho, mới thoát được trách nhiệm – tướng công là ân nhân của cụ Mại trong đời, cụ coi như tình đệ tử với sư phụ vậy.

 

Năm cụ Mại 39 tuổi Kim Giang tướng công về hưu, nên cụ cũng chán cảnh quan trường mà xin làm Quản giáo trường Quốc học Huế dạy chữ Hán, khi đó ông Ngô Đình Khả là Quản giáo dạy chữ Tây. Cụ Mại được bổ vào chức vụ đó cũng do tuy thi cử đỗ không cao những nổi tiếng có tài thi phú, làm thơ văn cả bằng tiếng Hán lẫn tiếng Nôm đều xuất sắc. Cụ Khả, cụ Mại vừa dạy học vừa phải đốc thúc việc xây dựng trường sở, “sự khởi đầu nan”. Những lúc dẫn học trò đi thăm các danh thắng ở kinh đô cụ giao cho họ nhớ lại các câu ca dao tục ngữ ở quê hương, rồi dùng Quốc ngữ biên soạn lại (hồi đó như thế là tân tiến lắm!) và thế là làm dần pho “Việt Nam Phong Sử”.

 

Năm 42 tuổi cụ Mại làm Phó Chủ khảo thi Hội, năm đó Chánh Chủ khảo là cụ Cao Xuân Dục (năm Tân Sửu 1901). Kết quả có 9 người đỗ Tiến sỹ (có người đi vào lịch sử như ông Ngô Đức Kế) và 13 người đỗ Phó Bảng. Thời trước quan chánh, phó chủ khảo cho đỗ đạt cũng được coi như người thầy của thí sinh, thế nên nhiều năm sau những vị học trò đỗ đạt vẫn thường qua thăm viếng các thầy, hoặc không qua được thì cho người nhà mang qua biếu thúng gạo, mảnh lụa… Có lần 4 trò đỗ đợt đó trong đó có Phó Bảng thứ 11 và 13 là Nguyễn Sinh Huy và Phan Châu Trinh đến thăm cụ Mại, chung nhau để đem dâng tặng bức trướng có đề “Phẩm hoa chủ nhân”. Thấy họ có vẻ quá khiêm tốn vì tuy đỗ nhưng thứ hạng chưa cao cụ Mại nói ngay: trong một khoa thi đỗ Phó Bảng hay Tiến SỸ thường những người đỗ tốp đầu hoặc tốp cuối mới là quan trọng, cũng như con cá nhờ vào cái đầu và cái đuôi mới vẫy vùng được mọi nơi. Lịch sử đã phần nào chứng minh được câu chuyện “con cá” của  cụ Mại, hai thí sinh này sau mới trở thành những nhân vật nổi tiếng của lịch sử Việt Nam. Cụ Mại làm giám khảo  tổng cộng 8 trường thi, trong đó có rất nhiều người sau này trở thành danh nhân đất Việt.

 

Gia tài văn học đáng kể nhất cụ để lại cho hậu thế là “Nhất Tự Phú” bằng chữ Hán (“Phú chữ nhất” được dịch ra tiếng Nôm bởi chính tác giả, chữ quốc ngữ, tiếng Pháp, tiếng Anh) và cuốn “Việt Nam Phong Sử”.

Bài “Phú chữ nhất” chữ quốc ngữ có thể xem chẳng hạn ở đây:

http://hyhau.free.fr/PCN.html

 

Trong những kỳ được bổ đi làm quan Bố Chánh ở khắp các tỉnh miền Trung, từ Thanh Hóa ra đến Quy  Nhơn cụ vẫn bổ sung cho tập “Việt Nam phong sử”, nó được viết tiếp cho đến năm 57 tuổi mới hoàn thành (trên 20 năm, với hơn một nghìn câu ca dao, tục ngữ Việt). Khi về triều cụ tặng cho mỗi vị quan một bản – đây là một tài liệu sưu tầm vô giá về nguồn gốc văn học Việt Nam (nguyên bản Hán Nôm, có bản dịch quốc ngữ).