NGƯỜI VIỄN ĐÔNG

Nơi chia sẻ và lưu giữ các bài viết của Nam Nguyen

CA SỸ LỚP TRƯỚC CỦA THỦ ĐÔ MIỀN BẮC

(Nhạc sỹ Nguyễn Lưu)


Chấm phá một hoa giáp các giọng ca Hà Nội
----
Nói chấm phá vì stt này chưa phải là chuyên khảo về nghệ thuật thanh nhạc Thủ đô mà chỉ là một nỗi nhớ và sự ghi nhận về một bộ phận của các ca sỹ Thủ đô trong 60 năm trở lại đây, kể từ khi người viết đã thành niên và biết nghe, biết phân biệt hay dở và ít nhiều dành khoảng thời gian đáng kể khi theo nghiệp âm nhạc. Nói ca sỹ Hà Nội là theo một nghĩa rộng, bao gồm những công dân Hà Nội và cả những ca sỹ ngoại tỉnh đã thành danh trên sân khấu Thủ đô, bới một thực tế là không một gương mặt nghệ thuật nào được lịch sử âm nhạc ghi nhận một cách đầy đủ nếu họ không tỏa sáng trên sân khấu Thủ đô Hà Nội. Và cũng để giúp nhiều bạn trẻ chưa có dịp thưởng thức các ca sỹ Thủ đô từ thế hệ trước, khi khoanh vùng 60 năm, tôi lấy mốc 1960 trở về trước là năm sinh của các ca sỹ, tức là stt này chưa nhắc đến lớp ca sỹ trẻ như Thanh Lam (1969), Hồng Nhung (1970) và những ca sỹ Mỹ Linh, Trọng Tấn, Đăng Dương, Việt Hoàn, Anh Thơ, Lan Anh, Tùng Dương… 


A. Tôi nhớ về hai gương mặt gạo cội của ca sỹ Hà Nội là Thương Huyền và Ngọc Bảo. Nữ ca sỹ, NSND Thương Huyền (1923), tên thật là Nguyễn Thị Thường là người chị cả của lối hát tân nhạc trong giai đoạn trứng nước, bà có người em trai là NSUT Văn Hanh, hai chị em bà từng được cử sang Trung Quốc thu những đĩa hát đầu tiên của Việt Nam, ghi dấu ấn với các bài hát “Sóng cả không ngã tay chèo” (Đỗ Nhuận), “Ru con” (dân ca) …và trở nên hình mẫu của lối hát dân ca Bắc Bộ. Thưởng Huyền còn hát rất hay những “Nhớ chiến khu”, “Côn Đảo” (Đỗ Nhuận), “Mơ đời chiến sĩ” (Lương Ngọc Trác), “Bộ đội về làng” (Lê Yên), và nhất là “Câu hò bên bờ Hiền Lương” (Hoàng Hiệp)… Chứng kiến sự xuýt xoa ngạc nhiên của khán giả nước bạn khi Thương Huyền miết giọng hát “Qua đình ngả nón trông đình…” ta mới thấy cái hay cái đẹp của nhạc Việt.


Ca sỹ tài tử Ngọc Bảo (1925) là một gương mặt đặc biệt. Ông là người Việt Nam đầu tiên được hãng đĩa hát Pathe Marcori mời sang Pháp để thu 20 bài nhạc Pháp cùng ban nhạc Guytghevel. Không có khoảng vang theo phương pháo bel canto, chỉ hát bằng bản thanh song giọng hát của ông thật sự quyến rũ nhiều thế hệ Hà Nội xưa, nhất là các bài nhạc tiền chiến, đặc biệt là “Tiếng hát quay tơ” (Tử Phác) và các tác phẩn của Đoàn Chuẩn, Dương Thiệu Tước, Hoàng Giác...



B. Theo truyền thống kính lão đắc thọ, tôi xếp theo thời gian những nữ ca sỹ nổi tiếng nhất của Hà Nội và nhận ra 5 nhóm ca sỹ tiêu biểu (không kể bác Thương Huyền và ca sỹ Ngọc Bảo).Tôi chỉ nêu một bài hát tiêu biểu nhất khi đề cập các ca sỹ.


1. Khánh Vân và Minh Đỗ (cùng 1929): Ca sỹ Khánh Vân là người đầu tiên hát “Bài ca Hy vọng” của Văn Kí. Ngay từ khi tác phẩm ra đời, giọng ca đằm thắm và bay bổng của bà lập tức chiếm trọn tình cảm của công chúng, bà có vinh dự hát bài này tại Phủ Chủ tịch và được Bác Hồ khen ngợi. Bà Minh Đỗ lại sôi nổi lơn, Tây hơn và đa dạng hơn. Ca sĩ nhỏ nhắn này làm sân khấu rạp Công nhân, phố Tràng Tiền như muốn vỡ ra khi hát “Trở về Bucares”. Minh Đỗ có chồng là nghệ sĩ chơi contrebass Văn Quy của đoàn ca nhạc VOV, và con trai là một nhạc sỹ trẻ.


2. Tân Nhân (1932). Nữ ca sỹ đã để lại dấn ấn bất tử với “Xa khơi” (Nguyễn Tài Tuệ) và là đề tài của mọi cuộc thi hát, khi người ta hay hỏi liệu đã có ai hát tác phẩm này sánh được với Tân Nhân? 


3. Kim Oanh và Ngọc Dậu (cùng 1933): Ca sỹ Kim Oanh thuộc lớp lão làng của VOV, bà có nhiều công lao với đơn vị và chất giọng hiện đại. Thời sinh viên, chúng tôi thích thú với giọng hát của Kim Oanh khi bà song ca cùng Trần Thụ bài hát Anbania “Sướng vui thay tổ quốc”. Tuổi ngoài 80 nhưng khi đến thăm bà tại căn nhà trên gác 2 phố Hàng Khay, Kim Oanh vẫn trổ tài cho phóng viên bằng một ví dụ độc đáo của kĩ thuật thanh nhạc. Ngọc Dậu lại khác, bà được đào tạo hát opera và là ca sỹ của Nhà hát Giao hưởng nhạc vũ kịch Việt Nam. Nói đến Ngọc Dậu, dân Hà Nội không quên vai diễn Tatiana trong opera “Ep-ghê-ni Ô-nhê-ghin” với giọng nữ cao xé lòng làm gai người những khán giả Hà Nội ngày ấy. Ông chuyên gia Liên Xô qua Hà Nội dàn dựng opera này đã tỏ ý hài lòng với vai diễn của Ngọc Dậu và Quý Dương (vai Ô-nhê-ghin) khi trả lời báo Nhân Dân.



-Nhóm 1940-1945, theo tôi là sung sức nhất với sự hiện diện của 7 danh ca rất xuất sắc. 
4. Tường Vy (1940): Nghệ sỹ hát kiêm nhạc sỹ sáng tác. Bà độc quyền với các bài hát về Tây nguyên như “Cô gái vót chông” (Hoàng Hiệp), “Tiếng đàn ta-lư” (Huy Thục), “Cánh chim báo tin vui” (Đàm Thanh), “Người lái đò trên sông Pô-cô” (Cầm Phong), “Đêm thao thức” (viết cùng Kp Púi)… và dân ca Lào, Indonesia (Hoa Chăm pa, Con ếch xanh). Là tác giả “Phi đội ta xuất kích” và “Rừng Đại tướng”).

Tâm Trừng (1941): Giọng Alto mẫu mực của Nhà hát Giao hưởng nhạc vũ kịch Việt Nam, bà để lại ấn tượng khá hay và lạ lẫm với bài “Ngày mùa” của Văn Cao.

Tuyết Thanh (1942): Giọng soprano khỏe, cá tính nổi bật của VOV. Khó mà kể hết những tác phẩm bà đã thành công trên sân khấu và trên sóng VOV. Ngoài việc xuất sắc khi đơn ca, Tuyết Thanh còn hấp dẫn khi song ca nữ (cùng Tuyết Nhung hay Bạch Kim) và song ca nam nữ (cùng Trần Khánh) và có thể nói song ca nam nữ hay nhất Việt Nam là cặp này với “Mùa xuân về trên sông Nậm Hu” (Hoàng Vân). Tuổi 76 song hiện nay Tuyết Thanh không đủ thời gian nhận hết học trò thanh nhạc, bởi bà còn là nhà sư phạm mẫu mực.

Thanh Huyền (1942): Giọng nữ cao trên cả tuyệt vời, bà đã được phong NSND lứa đầu tiên. Khó mà quên được giọng hát trong trẻo đáng yêu ấy với những “Đường cày đảm đang” (An Chung), “Rặng trâm bầu”, “Khi thành phố lên đèn”, “Qua bến đò quan” (Thái Cơ), “Mẹ yêu con”(Nguyễn Văn Tý)…

Mỹ Bình (1943): Ca sỹ giọng nữ cao giàu c�� tính của Nhạc viện Hà Nội, nổi tiếng với “Bài ca người giáo viên nhân dân” (Hoàng Vân).

Bích Liên (1944): Thuộc nhóm Sơn ca cùng các bạn Thanh Huyền, Thúy Hà…Bích Liên sở hữu chất giọng nữ cao trong sáng và có độ nảy, bà đã để lại ấn tượng với “Chào anh giải phóng quân, chào Đông xuân đại thắng” (Hoàng Vân), “Nổi lừa lên em”(Huy Du), “Tình ca Tây Bắc”(Bùi Đức Hạnh) khi song ca cùng Kiều Hưng…

Vũ Dậu (1945): Giọng alto ấm áp, Vũ Dậu là tốp trưởng tốp ca nữ Nhà hát ca múa nhạc TW, đơn vị nghệ thuật đầu tiên nhận danh hiệu tổ lao động XHCN. Tốp nữ áo bà ba hát tại Paris được nhà thơ Huy Cận viết bài thơ tâm huyết, Vũ Dậu hát “Những ánh sao đêm” (Phan Huỳnh Điểu) rất ấn tượng, bà có 2 người con nghệ sỹ là NS Ngọc Châu và ca sỹ Khánh Linh.

4. Thúy Hà (1949): Một giọng ca sôi nổi, một ca sỹ nhiều chất sân khấu. Bà tốt nghiệp nhạc viện Hà Nội, hát opera vai Cô Sao trong nhạc kịch cùng tên của Đỗ Nhuận, Marilin trong opera Fidelio của Beethoven. Thúy Hà hát rất bốc bài “Bến cảng quê hương tôi” (Hồ Bắc) và “Về đây với đường tàu” (Lưu Cầu) cùng nhiều bài hát khác.



5. Thanh Hoa (1950): NSND Thanh Hoa thuộc lớp đàn em của các liền chị Tuyết Thanh, Tuyết Nhung. Bà có chất giọng nữ cao mang âm hưởng dân ca và để lại ấn tượng với khá nhiều ca khúc như “Bác Hồ một tình yêu bao la” (Thuận Yến), “Tàu anh qua núi”…


Lê Dung (1951): NSND Lê Dung giành giải cao tại cuộc thi thanh nhạc mang tên nhà soạn nhạc thiên tài Trai-cốp-xki, với giọng nữ cao truyền cảm đã để lại nhiều ấn tượng qua các tác phẩm “Bài ca hy vọng” (Văn Ký), “Người Hà Nội” (Nguyễn Đình Thi), “Điều giản dị” (Phú Quang) và nhiều bài hát khác.


Thu Hiền (1952): NSND Thu Hiền có chất giọng đậm đà miền Trung, nhiều duyên nợ với các ca khúc mang đậm chất dân ca và được hâm mộ với những “Dáng đứng Bến Tre”, “Người đi xây hồ Kẻ Gỗ” (Nguyễn Văn Tý), “Miền Trung nhớ Bác” (Thuận Yến) và nhiều ca khúc khác.


Ái Vân (1954): Một chân dung âm nhạc rất đặc biệt, tài sắc vẹn toàn. Ái Vân đã đoạt Giải thưởng lớn tại cuộc thi âm nhạc ở Dresden (Đức) với “Bài ca xây dựng” (Hoàng Vân) và “Mặt trời chưa bao giờ mọc như thế” (Đức). Ngoài ra, ca sỹ xinh đẹp này còn thành công với nhiều ca khúc như “Triệu đóa hoa hồng” (Liên Xô), “Em đứng giữa giảng đường hôm nay” (Tân Huyền), “Người ở đừng về” (dân ca)…


Măng Thị Hội (1956): Dân tộc Bana Chăm, bà học tại Nhạc viện Hà Nội, dưới sự hướng dẫn của NS Thúy Huyền và làm đề án tốt nghiệp với bài hát “Bóng cây Kơ-nia” (Phan Huỳnh Điểu).


Rơ Chăm Pheng (1960): Dân tộc Gia Rai, bà để lại nhiều dư vị đậm đà chất Tây nguyên mạnh mẽ với các ca khúc “Bác Hồ sống mãi với Tây nguyên” (Lê Lôi), “Tháng Ba Tây nguyên” (Văn Thắng), “Em là hoa Pơ lang” (Đức Minh)…



Một vài trường hợp riêng:


Huyền Nga: Đây là một ca sỹ khá đặc biệt mà tôi không nhớ tuổi. Bà và nam ca sỹ Thanh Hiếu thuộc Sở Văn hóa Hà Nội, nổi bật với bài ca “Chim ơi nhắn giúp” rất phù hợp với nhiệm vụ đấu tranh thống nhất đất nước, phòng tập của đơn vị này ngay sau lưng Nhà hát lớn Hà Nội nên tôi nhiều lần nghe giọng của hai ca sỹ này.


Ngọc Bé: Là nhân viên của Công ty xe điện Hà Nội, có tư chất rất đặc biệt, âm khu cao và âm lượng lớn, Ngọc Bé đã nhiều lần lấy HCV tại các hội diễn Thủ đô song chưa thể đứng trên sân khấu quốc tế chỉ vì nước da. NS Nguyễn Cường có lần tâm sự cùng tôi, theo đó, điều kiện đủ của các nữ ca sỹ phải đẹp nhất hay xấu nhất và ông đã nêu Thanh Lan và Ngọc Bé. Có mở ngoặc: Giới thể thao Hà Nội ít người không biết “Như đen” là chủ công hàng đầu của bóng chuyền Hà Nội ngày ấy song anh không sao được lên tuyển, cũng như nữ ca sỹ Ngọc Bé và đó cũng là nỗi đau của lịch sử.


Giời không chuyên có những ca sỹ hay song không nhập vào một đơn vị chuyên nghiệp nào,ví dụ 2 ca sỹ Quỳnh Liên (ĐH Sư phạm) và Huy Túc (Nhà máy trung quy mô) với các bài hát có ấn tượng “Em đứng trên giảng đường” và “Chào em cô gái Lam Hồng”.



CÁC NAM CA SỸ 
Một dàn sao khá phong phú và để lại những ấn tương khác nhau, tùy theo gu thẩm mĩ của mỗi người, tuy nhiên về cơ bản nó vẫn có một mẫu sỗ chung. Với các nam ca sỹ, sẽ khó xác định tuổi hơn là phái đẹp, tuy vậy vẫn có thể xếp chố cho họ bằng cảm nhân.


1. Trần Khánh: Ngẫu nhiên là năm 1995, tôi và anh bạn sử học Dương Trung Quốc cùng có 2 bài viết khá công phu về quái kiệt này, cho dù cách tiếp cận khác nhau những có mẫu sỗ chung: Ca sỹ có chất giọng anh hùng ca, chất thép (maettoso) này là trường hợp độc đáo và khó có lại của xứ ta. Vài đặc điểm của Trần Khánh:


-Ông đã hát bài nào thì không một ai vượt qua được nữa.

-Là tay lĩnh xướng “khủng nhất” Việt Nam qua các bản hợp xướng “Hồi tưởng”, “Vượt núi”, “Bài thơ gửi Thái Nguyên” (Hoàng Vân), “Tổ quốc ta” (Hồ Bắc), “Ba Đình nắng” (Bùi Công Kỳ-Vũ Hoàng Địch), “Người Hà Nội” (Nguyễn Đình Thi), “Vượt sông Đại Độ” (giọng nam cao hoa xoang – giọng óc, bài hát Trung Quốc). Lĩnh xướng ở các bài khác: “Lá cờ Đảng” (Văn An), “Tình ca Tây nguyên” (Hoàng Vân), “Ta tự hào đi lên” (Chu Minh), “Tôi là người thợ mỏ” (Hoàng Vân)…Song ca nam rất ấn tượng cùng Trần Thụ với “Bình Trị Thiên khói lửa” (Nguyễn Văn Thương), “Không cho chúng nó thoát” (Hoàng Vân), “Lê-Nin” (nhạc Đức),”Kể chuyện người cộng sản” (Trần Hoàn)…Song ca nam-nữ xuất sắc nhất cùng Tuyết Thanh với “Mùa xuân về trên sông Nậm Hu” (Hoàng Vân). 



2. Nhóm lão làng:
-Quốc Hương, Kiều Hưng, Mai Khanh, Trần Chất, Quý Dương, Trung Kiên, Trần Hiếu, Văn Hanh, Quang Hưng, Trần Thụ, Gia Hội, Đoàn Thiều, Lô Thanh, Mạnh Hà, Trí Hiếu, Trần Bảng, Doãn Thịnh, Thịnh Trường…


Đại đa sỗ là các ca sỹ giọng tenor, duy giọng baritone là ít hơn mà rõ nhất là Tam Quang (Quang Hưng, Quang Huy, Quang Thọ).


Tam trầm là Y Dơn, Trần Hiếu và Quốc Trụ. Trong đó Y Dơn hết sức “khủng”, nhớ Y Dơn tôi liên tưởng đến ca sỹ giọng bass Sinva trong truyện ngắn nổi tiếng của Italia và ông có âm khu cực trầm, vượt xa Trần Hiếu một cái đầu!



2. Nhóm kế cận:
Ngọc Tân, Hữu Nội, Tiến Thành, Hoàng Tín, Huy Hùng, Doãn Tần, Trung Đức, Dương Minh Đức, Hoàng Ban, Hồng Kì, Phan Muôn…


Vài chi tiết vui vui:
NSND Quốc Hương từng ôm đàn đứng bên đường Trường Sơn hát phục vụ các đơn vị bộ đội hành quân, ông hát từ sáng đến tối mà không biết mệt. Hà Nội ngày xưa tối thứ 7 hay có ca nhạc ở nhà bát giác hay trước cửa nhà hát lớn, khi tin vịt “Quốc Hương bị chồng Lê Hằng bắn chết” lan ra -ông hát “Trước ngày hội bắn” cùng Lê Hằng, trong 1 buối ca nhạc ở nhà bát giác, ông tươi cười bước ra chào khán giả như sự phủ định tin vịt kia và khi khán giả vỗ tay ủng hộ, nghệ sỹ của chúng ta khẽ lắc đầu rất ý vị.
Khi ca sỹ Albani sang ta năm 1961 và chào sân bằng một nốt Sib ở quãng tám thứ 2 khiến mọi người ngỡ ngàng, ấy vậy ít ai biết trong opera Cô Sao, Kim Đính đã hát “tự do” với nốt đô cho chữ “do”, còn Gia Hội trong opera “Bông sen” cũng hát “Con khát lắm” lên tới nốt si – rất ấn tượng! 


Nghệ sỹ Mai Khanh đang hát trên sân khấu Nhà hát lớn bài “Bế Văn Đàn sống mãi” (Huy Du) bỗng ngứa cổ họng quá, rất bản lĩnh ông đã nhịn và đến câu “miền Nam đang xả đạn xuống đầu thủ” ông đã quát chữ “xả” rất mạnh, tôi đứng cánh gà nhìn rõ sự thán phục của nhiều người xung quanh… 



Các ca sỹ Thủ đô là niềm tự hào của âm nhạc Việt Nam, ngày nghỉ bồi hồi “nhớ gì ghi nấy”, chắc sẽ còn dịp khác kể tiếp những chuyện vui.


Link: https://www.facebook.com/luu.nguyenngua/posts/886923948164718  






Ý kiến không được cho phép