NGƯỜI VIỄN ĐÔNG

Nơi chia sẻ và lưu giữ các bài viết của Nam Nguyen

ĐIỆN BIÊN PHỦ

GÁY SỚM ĂN GÌ?




Chú ý: Nhiều thông tin hay và quan trong ở phần nguồn, nên đọc hết tất cả.

Thực chất, trước khi bước vào trận quyết chiến cuối cùng tại Điện Biên Phủ( ĐBP) người Pháp rất tự tin về khả năng kiểm soát cục diện của mình. Họ không thể ngờ rằng, ở phía bên kia, đối thủ của họ - Tướng Võ Nguyên Giáp cùng với Việt Minh(VM) đã đi những nước cờ quyết định xong xuôi, giờ chỉ còn chờ lùa ''con tướng'' vào thành và hãm chết nó ngay trong cái pháo đài ĐBP, thứ được xây dựng để bảo vệ nó. Một trong số đó là đánh mạnh và kéo dãn binh lực của Pháp trên chiến trường Đông Dương ở 5 nơi( Cái này SKG Lịch sử 12 viết rất rõ và rất chính xác, mình sẽ viết chi tiết ở nguồn số 15). Tuy nhiên, người Pháp vẫn ngây thơ tin rằng họ có thể đánh thắng Việt Minh, sau khi dành được một số thắng lợi nho nhỏ trước VM ở Ninh Bình, với việc xử dụng bom napan và hỏa lực áp đảo, bước đầu họ đã được nếm mật ngọt. Nhưng có vẻ họ đã không hiểu những người Việt, sau tổn thất ở Ninh Bình, nhưng lãnh đạo VM biết rằng không thể đánh quy ước với người Pháp ở đồng bằng, vốn có lịch sử Pháo binh nức tiếng thế giới, thêm vào đó là sự uy hiếp tin thần và sinh mạng của những người lính của mình trước thứ vũ khí lần đầu tiên được sử dụng trên chiến trường - Bom Napan. Mật ngọt thì chết ruồi, những tướng lĩnh của VM đã quyết định không tập hợp binh lực của mình tại một nơi và thành các khối đơn vị lớn cỡ trung đoàn hoặc đại đoàn nữa. Thay vào đó, rút kinh nghiệm ở Ninh Bình, khi họ tiến xuống đồng bằng, binh lực sẽ được chia nhỏ đến cấp đại đội hoặc tối đa là tiểu đoàn, các đơn vị bộ binh di chuyển và hành quân theo nhóm nhỏ, họ như tan biến trước gã khổng lồ Pháp. Để hình dung cho dễ, có thể tưởng tượng một đàn kiến lửa đang kéo pháo và súng dưới chân một con Voi để chuẩn bị nã vào nó, nhưng con voi vẫn chẳng thấy đối thủ của mình ở đâu. Đại tướng Võ Nguyên Giáp nhận xét: "Tới lúc này, quân đồn trú ở Điện Biên Phủ vẫn có thể mở một con đường rút lui. Vì sao Navarre không làm điều đó khi thấy nguy cơ một trận đánh sẽ xảy ra? Theo tôi, Navarre vẫn muốn Điện Biên Phủ sẽ làm vai trò "chiếc nhọt tụ độc" trên miền Bắc". Theo đó, Điện Biên Phủ ra đời nhằm thu hút chủ lực QĐNDVN, tại đó Pháp sẽ dùng ưu thế hỏa lực vượt trội để tiêu diệt. Nhưng thực ra, Navarre đã bị cuốn theo các hoạt động trong Chiến cục đông-xuân 1953-1954 của QĐNDVN mà ông không hề biết. Trận đánh xảy ra không bất ngờ mà nó đã nằm trong dự tính của QĐNDVN về một thắng lợi quyết định để kết thúc chiến tranh.
***---***
Bước đầu can thiệp của Mỹ ở Đông Dương.
Đầu năm 1950, Hoa Kỳ bắt đầu chính thức gửi viện trợ quân sự cho Pháp ở Đông Dương. Tháng 1 năm 1951 người Pháp nhận được 20 xe tăng M24, 40 khẩu pháo 105-mm và 250 quả bom thông thường và cả bom napalm cùng đạn dược và vũ khí tự động. Tới tháng 1 năm 1953, Pháp đã nhận được 900 xe thiết giáp cùng với 15.000 xe vận tải các loại, gần 2.500 khẩu pháo, 24.000 vũ khí tự động, 75.000 vũ khí cá nhân và gần 9.000 máy radio. Ngoài ra, Không quân Pháp đã nhận được 160 máy bay F6F Hellcat và F8F Bearcat, 41 máy bay ném bom B-26 Invader, 28 máy bay vận tải C-47 cùng với 155 động cơ máy bay và 93.000 quả bom. Cho tới khi Pháp thất bại hoàn toàn thì phía Mỹ đã viện trợ trên 1 tỷ USD mỗi năm (tương đương khoảng 5,8 tỷ USD theo thời giá năm 2004) và chi trả 78% chi phí chiến tranh của Pháp ở Đông Dương.[1]

Trả lời nhà báo Mỹ Harold Issacs (tháng 3 năm 1949), Chủ tịch Hồ Chí Minh có đoạn đối thoại sau[2]:

“ Hỏi: Các báo chí Mỹ thường nói rằng: Việt Nam có thể trở nên một nước chư hầu của Nga. Họ lại nói: Việt Nam là cộng sản hoặc là do cộng sản chi phối. Theo ý Cụ thì thế nào?
Trả lời: Đó là tuyên truyền láo của thực dân. Chính phủ Việt Nam gồm có đại biểu các đảng phái, như tôn giáo, dân chủ, xã hội, mác xít. Có nhiều Bộ trưởng không vào đảng phái nào. Lại có một vị hoàng tộc. Sao gọi được là cộng sản chi phối.
Hỏi: Cụ có sợ Việt Nam trở thành một nước chư hầu của nước nào không?
Trả lời: Không, tôi không sợ.
Hỏi: Chính sách của Mỹ ở Á Châu là thế nào?
Trả lời: Chỉ đứng về phía Việt Nam mà nói, thì chúng tôi tiếc rằng Mỹ đã tiếp tế khí giới cho Pháp giết hại người chúng tôi, phá phách xứ sở chúng tôi.


Trả lời nhà báo Mỹ A. Steele của tờ New York Herald Tribune (tháng 10 năm 1949), Chủ tịch Hồ Chí Minh nói: "Người ta lẫn lộn Việt Minh, một tổ chức yêu nước của dân tộc với Việt Nam, vốn là một quốc gia. Sự tuyên truyền giả dối của Pháp, và quan niệm sai lầm cho mọi phong trào giải phóng dân tộc và mọi sự cải cách xã hội đều là cộng sản... Tôi muốn hỏi nhân dân Mỹ một câu này, và mong ông cho tôi biết những câu trả lời của nhân dân Mỹ: Nếu Pháp hoặc một ai khác xâm phạm nước Mỹ, giết người đốt phá thành phố và làng mạc Mỹ, với mục đích là để bắt người Mỹ làm nô lệ, thì nhân dân Mỹ sẽ đối phó như thế nào?"[3]

Trên báo Cứu quốc, Chủ tịch Hồ Chí Minh kêu gọi:

“ "Lâu nay đế quốc Mỹ đã công khai can thiệp vào Đông Dương. Lâu nay thực dân Pháp làm chiến tranh ở Việt Nam, Cao Miên và Ai Lao là nhờ tiền bạc, súng đạn Mỹ, và theo chỉ thị của Mỹ... Muốn độc lập thì các dân tộc Đông Dương quyết phải đánh tan thực dân Pháp là kẻ thù số một. Đồng thời phải chống bọn can thiệp Mỹ. Chúng can thiệp càng mạnh, ta càng đoàn kết và chiến đấu mạnh hơn, chống cự mạnh hơn. Ta phải vạch rõ âm mưu của chúng cho nhân dân đều thấy, nhất là nhân dân ở vùng bị tạm chiếm. Ta phải lột mặt nạ và phá tan bọn người cam tâm làm chó sǎn cho đế quốc Mỹ để dụ dỗ lừa bịp, chia rẽ nhân dân ta. Dân tộc Việt Nam đoàn kết chặt chẽ với dân tộc anh em Miên, Lào thì sức mạnh đó đủ đánh tan thực dân Pháp và bọn can thiệp Mỹ. Đế quốc Mỹ đã thất bại ở Trung Quốc, đế quốc Mỹ sẽ thất bại ở Đông Dương. Chúng ta gặp nhiều khó khǎn. Nhưng chúng ta nhất định thắng lợi."[4]
***---***

Trước trận chiến - ò ó o gáy to gáy to.
Các tướng lĩnh và giới chính khách Phương Tây đã rất lạc quan: Jean Pouget, sĩ quan tùy tùng của Tổng Chỉ huy Navarre, viết: "...có thể khẳng định là không một ai trong số hơn 50 chính khách, các tướng lĩnh đã tới thăm Điện Biên Phủ, phát hiện được cái thế thua đã phơi bày sẵn..." Tướng Navarre viết: "Theo ông de Chevigné vừa ở đó về 2-3 thật là bất khả xâm phạm. Vả lại, họ không dám tiến công đâu.". Tướng Cogny thì tin tưởng: "Chúng ta đến đây là buộc Việt Minh phải giao chiến, không nên làm gì thêm để họ phải sợ mà lảng đi"[5] Bộ trưởng Quốc phòng René Pleven đã báo cáo với Chính phủ Pháp sau chuyến đi thị sát tình hình Đông Dương: "Tôi không tìm được bất cứ ai tỏ ra nghi ngờ về tính vững chắc của tập đoàn cứ điểm. Nhiều người còn mong ước cuộc tiến công của Việt Minh".
Người Pháp luôn tự hào về pháo binh và Piroth là sự bổ xung tuyệt vời cho Đại tá De Castries bởi những kinh nghiệm chuyên môn giỏi của ông ta; Piroth cũng đồng thời là chỉ huy phó Tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ, đặc trách pháo binh. Piroth cho rằng "không có khẩu pháo Việt Minh nào kịp bắn hơn 3 viên đạn trước khi nó được định vị và phá hủy."[6] Ông cũng khẳng định với các sĩ quan chỉ huy khẩu đội của mình: "Đừng lo lắng, các chàng trai, họ sẽ phải tiết lộ vị trí của họ khi họ khai hỏa, và 5 phút sau, không còn pháo binh Việt nữa."[6] Ông có niềm tin mãnh liệt rằng lực lượng pháo binh Pháp dưới quyền ông hoàn toàn có thể khống chế được pháo binh của đối phương, vốn trang bị kém hơn và kinh nghiệm nghèo nàn hơn.

"Thứ nhất, Việt Minh sẽ không thành công trong việc đưa pháo của họ tới đây. Thứ hai, nếu họ đến đây, chúng tôi sẽ đập nát chúng. Thứ ba, ngay cả khi họ có thể tiếp tục bắn, họ sẽ không thể tiếp tế đủ đạn dược để có thể gây hại cho chúng tôi."[6]

Chú thích ph��: [6]: Jean Charles Clement Piroth (14 tháng 8 năm 1906 – 15 tháng 3 năm 1954) là một sĩ quan pháo binh Pháp, cấp bậc Trung tá. Ông là chỉ huy trưởng pháo binh của Binh đoàn tác chiến Tây Bắc, từng tuyên bố hùng hồn "Tôi có nhiều đại bác hơn số tôi cần", nhưng đã xấu hổ tự sát bằng lựu đạn trong những ngày đầu cuộc chiến sau khi nhận ra tình cảnh bế tắc không thể chống lại được lực lượng pháo binh đối phương tại trận Điện Biên Phủ. Các câu nói được lấy từ sách Morgan 2010 and Dien Bien Phu.

Kết quả của trận chiến thì ai cũng rõ. Nhưng phía sau nó là những bí mật mà ít người biết.
***---***
Phía sau cuộc chiến.
Kế hoạch giải nguy của Mỹ:
Tổng thống Nixon viết: "Đô đốc Radford, Chủ tịch Hội đồng Tham mưu trưởng Liên quân, đề nghị chúng ta dùng 60 máy bay ném bom B-29 ở Philippines mở các cuộc đột kích vào ban đêm để tiêu diệt các vị trí của Việt Minh. Và đặt ra kế hoạch mang tên "Cuộc hành binh Chim kền kền" (Opération Vautour) nhằm đạt cùng mục tiêu với ba quả bom nguyên tử chiến thuật nhỏ".
Những phe phái "diều hâu" ở Washington cũng xúc tiến kế hoạch. Ngày 3 tháng 4 năm 1954, Ngoại trưởng Mỹ John Dulles và Đô đốc Arthur Radford họp với 8 nghị sĩ có thế lực trong Quốc hội, thuộc hai đảng Dân chủ và Cộng hòa, phổ biến ý định của Tổng thống muốn có một nghị quyết cho phép sử dụng lực lượng không quân và hải quân Mỹ ở Đông Dương. Dulles nhấn mạnh Đông Dương sụp đổ có thể dẫn tới mất toàn bộ Đông Nam Á, Hoa Kỳ cuối cùng sẽ bị đẩy về quần đảo Hawaii. Nếu Mỹ không giúp Pháp thì hậu quả sẽ là Pháp phải từ bỏ chiến tranh Đông Dương.

Nhưng theo những quan chức Mỹ, nhiệm vụ chính phải được hoàn tất với 3 sư đoàn không quân ném bom, hai ở Okinawa, một ở Clark Field, tổng cộng là 98 siêu pháo đài bay B-29, mỗi chiếc mang 14 tấn bom, phải có thêm 450 máy bay tiêm kích phản lực bảo vệ cho máy bay ném bom.

Ngày 9 tháng 4, tại Washington, Eisenhower họp với Radford, các Tham mưu trưởng ba quân chủng và nhiều sĩ quan cao cấp khác xem xét lần cuối mọi mặt tình hình. Radford là người duy nhất ủng hộ một cuộc can thiệp của Mỹ dù là đơn phương để tránh sự thất trận ở Điện Biên Phủ. Các Tham mưu trưởng Hải quân, Không quân tỏ vẻ không mặn mà. Riêng Tham mưu trưởng Lục quân Matthew Ridgway phản đối quyết liệt. Ridgway viện dẫn sự thất bại thảm hại từ cuộc hành binh "Bóp nghẹt" (Strangle) của Mỹ ở Triều Tiên, nhằm tiêu diệt con đường tiếp tế, để chứng minh sự hạn chế của những hành động bằng không quân trong loại chiến tranh này. Ridgway cho rằng những cuộc ném bom sẽ dẫn Hoa Kỳ vào một cuộc chiến tranh mới bằng bộ binh tốn kém với lối thoát không rõ ràng ở lục địa châu Á.

Ý kiến của Ridgway được nhiều người tán đồng và kế hoạch Chim kền kền bị đình chỉ. Nhưng mười năm sau, cũng tại Việt Nam, nhà cầm quyền Mỹ đã quên những kinh nghiệm này.
***---***
Những câu nói kinh điển.
Sau này, Bộ trưởng Quốc phòng Pháp Marcel Bigeard, nguyên là Trung tá phó Chỉ huy của tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ, sang thăm Việt Nam năm 1993, nhìn lại chiến trường cũ, đã có một câu với một nhà quay phim nước ngoài: "Nếu tôi là người Việt Nam, tôi cũng sẽ trở thành Việt Minh". Còn tướng De Castries, sau khi thất bại trở về Pháp, đã trả lời trước Ủy ban Điều tra của Bộ Quốc phòng Pháp rằng: "Người ta có thể đánh bại một quân đội, chứ không thể đánh bại được một dân tộc". Chỉ huy phó của Tập đoàn cứ điểm, Đại tá Pierre Langlais cũng viết trong cuốn hồi ký Điện Biên Phủ của ông rằng: "Ở Điện Biên Phủ, nếu người ta muốn nhìn thẳng vào sự thật, thì ắt phải thấy rằng viện trợ cho Việt Minh chỉ là một giọt nước đặt bên cạnh dòng thác vật tư của Mỹ đổ vào cho người Pháp chúng ta".[7] Nhà báo Pháp Giuyn Roa khẳng định: "Không phải viện trợ của Trung Quốc đã đánh bại tướng Navarre mà chính là những chiếc xe đạp Peugeot thồ 200, 300 kg hàng và đẩy bằng sức người, những con người ăn chưa đủ no và ngủ thì nằm ngay dưới đất trải tấm nilông. Cái đã đánh bại tướng Navarre không phải bởi các phương tiện mà là sự thông minh và ý chí của đối phương..."
Nước Pháp vốn bị chế diễu khá nhiều mỗi khi bị xếp chung “mâm” với người Nga, Người Anh và người Đức, sau thất bại của ĐBP họ còn chịu nhục khi bị troll trên khắp các diễn đàn. Trước kia ở những diễn đàn mạng, người Pháp bị troll: “Những người đàn ông thực sự của Pháp đã chết ở ngoại vi thành phố Moscow”. Nay câu đó bị CĐM Việt Nam chế thành: “Những người đàn ông Pháp BIẾT đánh nhau đã chết ở trận waterloo, những người đàn ông Pháp DÁM đánh nhau cũng đã chết ở trận ĐBP.” [??? Cố tìm nguồn câu này bắt đầu từ đâu nhưng không thành công].
***---***
Điện Biên Phủ và những cái nhất.
Chiến thắng Điện Biên Phủ là chiến thắng với những cái nhất, nó được xem là trận đánh có quy mô lớn cuối cùng của chiến thuật vây hãm hầm hào và cũng nằm trong top 10 cuộc vây hãm hay nhất lịch sử. Đồng thời nó cũng đánh dấu sự sụp đổ của “Đế chế thực dân thứ 2” của người Pháp.[8]. Chính cái chiến thắng này đã vẽ lại bản đồ thế giới theo cách riêng của mình, và tất nhiên, tất cả những “ đế quốc thực dân “ không thích điều này.[9]. Họ- những người lính nông dân chứ không phải ai khác đã trực tiếp tạo nên điều này. Ở họ là một phong cách hết sức bình dị và gần gũi, họ không hào hoáng hay anh dũng như hình tượng người lính được xây dựng trong các tác phẩm nghệ thuật và điện ảnh, tồn tại ở họ là những sự thật, những sự thật đôi khi thật trần trụi.

Chú thích phụ:

[8]: Lịch sử Pháp ghi nhận 2 đế chế thực dân bao gồm Đế chế thực dân thứ nhất từ năm 1534 đến năm 1814 và Đế chế thực dân thứ 2 từ năm 1830 đến năm 1980. Trong thời đại hoàng kim của đế chế thực dân thứ nhất năm 1812, người Pháp đã xâm chiếm được tổng cộng 3.400.000 km2 đất đai, chia làm 130 tỉnh, chiếm 2,28% diện tích thế giới, đô hộ trên 44 triệu người. Tuy nhiên sau nhiều thất bại trên mặt trận quân sự mà đặc biệt là ở trận Waterloo, trận đánh cuối cùng và cũng là thất bại cuối cùng của vua Napoléon Bonaparte đế chế thực dân thứ nhất đã hoàn toàn sụp đổ. Đế chế thực dân thứ 2 của người Pháp bắt đầu từ năm 1830 khi họ khơi mào cuộc chiến dài 17 năm với Algeria , có những thời điểm họ đã làm chủ 7,72 diện tích đất liền trên thế giới tương đương 11.500.000 km2, cai quản hơn 100 triệu dân trở thành 1 trong 6 đế chế vĩ đại nhất trong lịch sử nhân loại.
[9]: Chiến tranh Đông Dương kết thúc với thất bại của Pháp, người Việt Nam thu hồi lại quyền kiểm soát của đất nước mình từ năm 1954. Liên bang Đông Dương thuộc Pháp sụp đổ hoàn toàn. Người Pháp gần như ngay lập tức phải đối đầu với phong trào độc lập mới tại châu Phi. Cameroon khởi nghĩa dưới sự lãnh đạo của Ruben Um Nyobé. Ngay cả chính thuộc địa lâu đời nhất của Pháp cũng chống lại họ: Algeri. Năm 1956, cả Maroc và Tunisia tuyên bố độc lập. Dù Charles de Gaulle trở lại nắm quyền lực vào năm 1958, với sự tái lập Liên hiệp Pháp sau đó đổi tên thành Cộng đồng Pháp (Communauté française) theo mô hình Khối Thịnh vượng chung Anh, đã đưa ra những nhân nhượng với các thuộc địa nhằm giữ gìn quyền lợi của Pháp, cuộc khủng hoảng giữa chính quốc với thuộc địa vẫn không thể hòa giải. Năm 1960, Madagascar và Cameroon độc lập; Algeri vào năm 1962. Trên thực tế, Cộng đồng Pháp tự giải thể từ giữa của Chiến tranh Algérie. Một số ít thuộc địa đã chọn hình thức tự trị như là vùng lãnh thổ hải ngoại (départements d'outre-mer) thay cho cai trị trực tiếp như là một phần của chính quốc Pháp. Đế quốc thực dân Pháp chỉ còn lại cái bóng của ánh hào quang cũ.[10]
***---***
Chút chạnh lòng.
Mặc dù tối nay có nguy cơ trắng dêm để làm đồ án thì mình vẫn dành ra gần 1h đồng hồ để gõ những dòng trên, như phần đầu mình đã nói, những nước cờ VM đã đi, nhưng đôi khi, có những kẻ đã lợi dụng xương máu của những người Việt, và lợi dụng luôn cả những nước cờ của những năm 1953. Hôm 9/11/2019, Quốc khánh Campuchia, các bạn du học sinh Cam đang học tại Bách Khoa có kỷ niệm điều này, ừ thì mình cũng ủng hộ và chúc mừng các bạn ấy , nhưng chỉ hơi chạnh lòng với người có đôi chút kiến thức lịch sử như mình khi nhìn thấy dòng chữ:" Kỷ niệm 66 năm quốc khánh Campuchia 9/11/1953". Vì mình biết rằng, xương máu của chính người Việt đã đổ xuống cho nước cờ của họ, nói cách khác, trong cái độc lập của đất nước Campuchia, máu của người Việt đã đổ nhiều hơn cả chính họ- những người Cam.
Bối cảnh Campuchia trong khoảng thời gian 1945 - 1953:
Tháng 3 năm 1945, sau khi Nhật đảo chính Pháp ở Campuchia, cơ quan an ninh quân sự Kempeitai khuyên Norodom Sihanouk nên tuyên bố độc lập và lãnh đạo chính quyền mới của Campuchia. Sau khi quân đội Đồng minh tái chiếm Đông Dương vào cuối năm 1945, người Pháp trở lại Campuchia, Sihanouk hợp tác trở lại với người Pháp, do đó người Pháp cho phép chính quyền Sihanouk tổ chức bầu cử Quốc hội năm 1946. Trong cuộc bầu cử 1946, Đảng Dân chủ được cả người Pháp và Hoàng gia hậu thuẫn giành được 50 trong số 69 ghế, trong khi Đảng Tự do của Hoàng thân Norindeth chỉ được 16 ghế. Sau cuộc bầu cử năm 1951, Đảng dân chủ vẫn giữ 53 ghế còn Đảng Tự do 18 ghế. Quốc hội này đã thông qua bản Hiến pháp thành lập chính thể quân chủ lập hiến.[11]

Ngày 15/6/1952, do tình hình chính trị bất ổn Sihanouk đã giải tán nội các Huy Kanthol và thay ông này làm Thủ tướng. Ngày 11/1/1953, ông cũng giải tán luôn Quốc hội và cho bắt giữ 17 đảng viên Dân chủ, giam họ 8 tháng mà không hề xét xử. Cũng trong giai đoạn này Norodom Sihanouk thực hiện chiến dịch mà ông gọi là 'Thánh chiến cho Độc lập' bằng các cuộc vận động ngoại giao ở Montreal, Washington và Tokyo. Trong thời gian này, ông cũng không chịu về Phnom Penh, mà ở Siem Reap và Battambang[12]. Ông làm việc này với mục tiêu giành độc lập hoàn toàn cho Campuchia trong vòng ba năm.[13]

Tháng 5 năm 1953, ông sang tị nạn tại Thái Lan và từ chối hồi hương cho đến khi có độc lập. Ông về nước ngày 9 tháng 11 năm 1953. Người Pháp trong khi đang thua trận khi đối đầu với Việt Minh ở miền Bắc Việt Nam ( trước trận Điện Biên Phủ)[*], không còn sức lực đối phó với một tiền tuyến thứ hai nên đồng ý giao trả chủ quyền lại cho Campuchia vào ngày 9/11/1953, trước khi Việt Nam và Lào giành được độc lập.[14]
MÁU ĐÃ ĐỔ NHƯNG KHÔNG VÌ THẾ MÀ CHÚNG TA ÔM THÙ HẬN, Ở MỘT THẾ GIỚI PHẲNG, LỢI ÍCH DÂN TỘC LUÔN LÀ ĐIỀU CỐT LÕI, KHI HIỂU ĐƯỢC VẤN ĐỀ NÀY, CHẲNG CÓ GÌ SAI KHI HỌ LÀM ĐIỀU CÓ LỢI CHO DÂN TỘC HỌ. Và chúng ta cũng vậy.
#HUST

[1]:France (location: Indochina) 1950-54, US Foreign Policy in Perspective, 2009
[2]: Hồ Chí Minh toàn tập. Trả lời nhà báo Mỹ Harôn Ixắc (3 năm 1949)
[3]:Báo Cứu quốc, số 1370, ngày 13-10-1949
[4]:Báo Cứu quốc, số 1608, ngày 25-7-1950.
[5]: Thời điểm của những sự thật (trích hồi ký Navarre về Điện Biên Phủ), Henri Navarre,
[6]: Jean Charles Clement Piroth (14 tháng 8 năm 1906 – 15 tháng 3 năm 1954) là một sĩ quan pháo binh Pháp, cấp bậc Trung tá. Ông là chỉ huy trưởng pháo binh của Binh đoàn tác chiến Tây Bắc, từng tuyên bố hùng hồn "Tôi có nhiều đại bác hơn số tôi cần", nhưng đã xấu hổ tự sát bằng lựu đạn trong những ngày đầu cuộc chiến sau khi nhận ra tình cảnh bế tắc không thể chống lại được lực lượng pháo binh đối phương tại trận Điện Biên Phủ. Các câu nói được lấy từ sách Morgan 2010 and Dien Bien Phu.
[7]: Patti Polisar, Inside France's Dgse: The General Directorate for External Security, các trang 35-37.
[10]: Tham khảo : Indochina War.
[11],[12],[13],[14]: http://www.bbc.com/…/…/2012/10/121015_sihanouk_profile.shtml
[15]:Toàn chiến trường Đông Dương, quân chính quy của Liên hiệp Pháp có khoảng 45 vạn, Việt Minh chỉ có khoảng 23 vạn. Tỷ lệ binh lực toàn chiến trường là 2:1 nghiêng về phía Pháp. Nhưng riêng tại trận quyết chiến Điện Biên Phủ thì Việt Minh lại có thể tạo ưu thế về binh lực với tỷ lệ 3.4:1. Việc Pháp để cho Việt Minh có thể tập trung được một lực lượng hơn 55,000 quân (1/4 binh lực) bao vây họ ở Điện Biên Phủ trong khi lực lượng của họ lại bị phân tán, đây rõ rằng là một thất bại mang tính chiến lược của Pháp, làm đường ray rẵn cho kết cục Điện Biên Phủ, mà nguyên nhân của nó là do những nước cờ chiến lược của Việt Minh như sau:
*Tháng 12/1953, Việt Minh tấn công Lai Châu buộc Pháp phải đổ quân vào Điện Biên Phủ nhằm án ngữ Tây Bắc, kiểm soát và bảo vệ Thượng Lào.
*Cuối tháng 12/1953, Việt Minh tấn công Thakhet buộc Pháp phải đổ quân vào Sênô để giữ Trung Lào.
*Việt Minh tấn công Kontum, tiến sát đường 19, buộc Pháp phải điều quân vào Pleiku.
*Ngày 25/1/1954, Việt Minh tấn công giải phóng Phongsaly, buộc Pháp phải điều quân tập trung ở Luông Pha Băng, bảo vệ cho kinh đô của vua Lào.
*Ngoài ra Việt Minh còn đẩy mạnh tiến hành chiến tranh du kích, đặc biệt là ở Đồng Bằng Bắc Bộ khiến Pháp phải duy trì một lực lượng mạnh ở đây.
Như vậy, chỉ với 5 đòn đánh, Việt Minh đã buộc quân Pháp bị động đối phó, phân tán lực lượng cơ động của mình ra 5 nơi: Điện Biên Phủ, Seno, Pleiku, Luong Pha Băng và Đồng bằng Bắc Bộ. Khả năng cơ động ứng cứu lẫn nhau của 5 nơi này là gần như không thể. Do đó, với cả hai yếu tố địa điểm và binh lực cho trận quyết chiến này, quân Pháp đều bị sa vào cái thế do Việt Minh tạo ra trong chiến cục Đông Xuân 1953-1954. Đó là nghệ thuật quân sự, nghệ thuật tạo thế và cài thế.
Tác giả của tạo thế và cài thế trong chiến cục Đông Xuân 1953-1954 không ai khác chính là bộ tứ siêu phàm này( ảnh dưới) . Cuối tháng 8-1953, Trong một cuộc họp, Chủ tịch Hồ Chí Minh tổng kết:"Địch tập trung quân cơ động để tạo nên sức mạnh... Không sợ! Ta buộc chúng phải phân tán binh lực thì sức mạnh đó không còn."
Khi nói đến câu “địch tập trung quân cơ động để tạo nên sức mạnh” Chủ tịch Hồ Chí Minh giơ nắm đấm lên để minh họa. Còn khi nói đến câu “buộc chúng phải phân tán binh lực...” thì lại xòe bàn tay ra 5 ngón. Và chiến cục Đông Xuân 1953-1954 diễn ra đúng như thế, quân Pháp muốn tập trung binh lực nhưng lại bị phân tán ra đúng 5 nơi. Đây chính là những yếu tố quyết định 50% chiến thắng của chiến dịch Điện Biên Phủ ngay khi nó còn chưa diễn ra.



(Ngô Quang Trưởng)

Ý kiến không được cho phép