NGƯỜI VIỄN ĐÔNG

Nơi chia sẻ và lưu giữ các bài viết của Nam Nguyen

NHỮNG NGƯỜI THẦY ĐẾN TỪ THẾ KỶ 19 – P.2 - CHA THÍCH & TẤM GƯƠNG THÁNH THIỆN


 

(Dành cho người đọc chậm)

 

Lời nói đầu: có những con người ta chưa từng gặp bao giờ, nhưng lại không thể không nhớ về họ, không nguôi ngoai khi còn chưa biết được nhiều về họ. Tôi có một người bác ruột hơn tuổi tôi tới ba phần tư thế kỷ, chưa được gặp bác bao giờ, bác đã mất mấy chục năm rồi nhưng cả họ vẫn khôn nguôi nhớ bác, rồi rất nhiều người nay đầu đã bạc trắng ở khắp mọi miền, ở nhiều quốc gia vẫn kể cho nhau về bác, đơn giản bác là một con người phi thường và là một tấm gương thánh thiện cho nhiều thế hệ sau này noi theo. Viết về bác khó lắm, tôi loay hoay mãi rồi hôm nay mới dám làm cái việc chả mấy khiêm tốn này, “viết” ở đây thực ra chủ yếu là trích dẫn và ghi lại những lời kể của tiền nhân. Có lẽ sẽ có nhiều sai sót, xin được chỉ dẫn và lượng thứ!

 

 

Bác là con thứ hai của ông nội tôi, với tên Nguyễn Hy Thích bác chào đời tại phủ lỵ An Nhơn tỉnh Bình Định, ngày 20 tháng 8 Tân Mão tức ngày 22 tháng 9 năm 1891, lúc đó ông nội tôi là cụ Thượng Tiểu Cao làm tri phủ sở tại đó. Nhưng quê quán của bác cũng như cả dòng họ Nguyễn Hy là ở làng Niêm Phò, huyện Quảng Điền, thuộc tỉnh Thừa Thiên cơ. Từ 4 tuổi, cậu ấm Thích đã được thân phụ dạy chữ Hán rồi lớn lên vác lều chõng thi Hương, đến trường ba thì hỏng (chuẩn bị bằng Cử nhân). Thời gian này bác Thích cũng học chữ quốc ngữ và chữ Pháp rồi vào học trường Pellerin gọi là «Trường Dòng», ở Huế, do các Sư Huynh Lasan (Saint Jean Baptiste de La Salle – họ không phải là các “linh mục”) điều khiển và giảng dạy. Ở chàng thanh niên này đã có một sự hòa quyện tuyệt vời giữa văn hóa phương Đông và phương Tây, dần dần niềm tin vào Đức Chúa Giê su đã ngự trị trong tim, nhưng người thầy giáo trẻ này rất hiểu rằng cha mẹ sẽ ngăn cản quyết liệt, nhất là với cương vị Hiệp Tá Đại Học Sỹ, cụ Phó Bảng Nguyễn Văn Mại đã nhiều lần làm Chủ khảo và Thượng thư bộ Lễ trong triều – thời đó theo đạo Thiên Chúa cũng đồng nghĩa với sự bất hiếu, bất trung… Từ 1911 cha Thích có làm bài thơ nói lên tâm tưởng của mình: 

 

SUY ĐI NGHĨ LẠI

Suy đi nghĩ lại thử mà coi

Cái kiếp phù sinh được mấy hồi

Dòng nước chảy qua bao thuở lại

Ngày trời lần tới chẳng hề lui

Chốn thiên đàng ấy là quê thật

Cõi thế gian này một kiềng chơi

Hoạ phước đời đời đành có một

Suy đi nghĩ lại thử mà coi

 

Khi nghe tin con thứ của mình đã được ban phép Thánh Tẩy với tên thánh là Giuse Maria ông nội tôi đã trói bác vào chân giường, đánh cho một trận nhừ tử:

“Trong nhà dùi, gậy, ba toong,

Rút ra đánh hết, chẳng còn cái mô!

Chị em, ai nấy sững sờ,

Lính tráng, vú bõ, không ai rờ đến cơm…”

 

Cuối cùng ông tôi cũng phải chịu thua đứa con cứng đầu, cả hai cha con cùng khóc. Ông nội có làm bài thơ:  

 

“Cởi lốt trần gian mặc áo dòng,

Từ rày việc thế, thế là xong.

Bỏ nhà chi sá hai dòng lệ,

Thờ Chúa xin dâng một tấc lòng.

Nhẹ gót bước vào nơi tịch tịnh,

Vui tình, chôn lấp cái hình dung.

Bây giờ ngoảnh lại xem trần thế

Một bước đà xa mấy vạn trùng”.

 

 

Cụ Thượng vẫn cố cứu vớt bằng cách muốn lo cho con yên bề gia thất, toan mai mối cho người con gái của Cụ Thượng Công giáo Nguyễn Hữu Bài, quãng đó là tháng 9 năm 1917. Biết tin ấy bác Thích đã làm một việc “không tiền khoáng hậu” – đóng giả làm một người con gái trốn nhà đến thẳng Tiểu Chủng viện An Ninh tại Quảng Trị để xin nhận. Thường người ta chỉ nhận các bé 12 đến 14 tuổi thôi, nhưng bác lúc đó đã 26 tuổi! Nhưng Chủng viện chấp nhận, bác vừa được học tiếng La tinh và học làm linh mục, vừa dạy luôn tiếng Pháp, Hán văn, Quốc văn cho chủng sinh. Bác Thích làm thơ bày tỏ nỗi lòng người con:

 

“TRUNG VÀ HIẾU

Hết trung thờ Chúa đạo làm trai

Chữ hiếu làm con dễ dám sai

Vẫn hiếu với trung là vốn một

Mà trung cùng hiếu chẳng toàn hai

Thà rằng mất hiếu trung cùng Chúa

Hễ đã không trung hiếu với ai ?

Chữ hiếu ấy tình , trung ấy nghĩa

Bên trung bên hiếu nặng hai vai”

(An - Ninh chủng viện 1917)

 

Sau 9 năm trời ở qua 2 chủng viện bác Thích mới được thụ phong linh mục. Sau này dưới sự ảnh hưởng của bác, còn một bác gái tôi hiệu Như Ngộ cũng bỏ nhà ra đi vào trường dòng, trở thành sơ Agnès Nguyễn thị Ngọc.

 

Ngoài việc thờ phụng Chúa thì cha Thích từ 20 tuổi cho tới hơn 80 tuổi liên tục dạy học, từ tiểu học đến trường dòng, chủng viện, rồi Quốc học Huế, các đại học ở Huế, Sài Gòn, Đà Lạt. Sau này bác dạy nhiều về Hán học và Triết học. Ông giảng nhiều về Mạnh Tử, Trung Dung, kinh Dịch, nhưng là kinh Dịch dưới góc nhìn của một linh mục Thiên Chúa giáo. Với cơ bản học thức và văn hóa rất cao cha Thích sớm trở nên rất nổi tiếng, nhất là giới trẻ rất thích được nghe cha giảng bài. Chẳng hạn về triết học thì có những lần các vị Tố Hữu, Hải Triều đã mời Cha về để tranh luận cho ra nhẽ, cuối cùng chả bên nào chịu bên nào! Cha được nhắc đến với vai trò không chỉ là một nhà tu hành mà trên hết là với vai trò của một Giáo sư của nhiều thế hệ - sự ảnh hưởng của Cha trong tâm thức mọi người, trong tâm thức của nhiều thế hệ học trò đã vượt qua cả thử thách về không gian và thời gian.

 

Cha Thích là một nhà báo xuất sắc, tờ tuần báo “Vì Chúa” do cha sáng lập xuất bản từ 1936, với tam ngữ Việt-Hán-Pháp, với nhiều cộng tác viên như cụ Ưng Trình, cụ Phan Bội Châu, cụ Huỳnh Thúc Kháng, Đức Cha Hồ Ngọc Cẩn… Ngoài ra, cha còn cộng tác với báo “Nguồn Sống”, tạp chí Đại Học Huế, hay “Cổ Học Quí San”… Cha Thích và ông Mặc Si Nguyễn Huy Nhu, Tiến Sĩ khoa Bính Thìn nhà Nguyễn, là hai Giáo sư Hán Nôm đầu tiên của Đại học Huế. Hai ông thành lập Hội Cổ học, và chủ trương cho ra đời Tạp chí Cổ học.

 

Cha Thích là họa sỹ với năng khiếu bẩm sinh, luôn tự minh họa cho sách báo của mình, đặc biệt giỏi cổ họa. Còn với âm nhạc thì khá hiếm có, cha rất yêu thích âm nhạc và có thể chơi được thành thạo các nhạc khí dân tộc như đàn nhị, đàn cò, đàn nguyệt, đàn bầu, đàn tì bà… kể cả các nhạc cụ Tây phương như mandolin hay vĩ cầm. Hơn thế nữa Cha đã phổ lời cho khá nhiều thánh ca dùng trong nhà Thờ (vẫn được dùng cho tới ngày nay), và phổ lời Việt cho nhiều bài hát sôi nổi của phong trào Hướng đạo sinh hồi đó đang cực thịnh ở miền Trung với thủ lĩnh Tạ Quang Bửu, chẳng hạn bài “Nhà của ta” hay được hát khi cắm trại:

https://www.youtube.com/watch?v=4HsuwaO6TIU 

 

Trong quyển sách của nhạc sỹ Phạm Duy “Tân nhạc Việt Nam thuở ban đầu” có nhắc tới cái tên linh mục Giuse Maria Nguyễn Văn Thích (Không hiểu sao trong sách vở nhà thờ Cha Thích luôn được lưu lại với cái tên có tên đệm không đúng này) như một trong những người có công đầu ở miền Nam quảng bá, phổ nhạc cho các ca khúc  tới từ nước Pháp.

 



Về thơ văn thì đây có lẽ là chốn bộc lộ nhiều tài năng nhất của cha Thích, ông nổi tiếng học rộng biết nhiều, hơn thế còn sáng tác rất nhiều thơ văn. “Sảng Đình thi tập” gồm 153 bài thơ Việt văn, Hán văn, Pháp văn của cha, nhưng chưa phải là tất cả đâu (Sảng Đình là bút danh của bác, có nghĩa là ánh sáng chói rọi của Chúa). Nhiều câu chuyện đến giờ vẫn lưu truyền nói về tài năng văn học của cha Thích, chẳng hạn năm 1960, theo phái đoàn chính phủ đi Đài Loan, trong bữa tiệc hạnh ngộ có món chim đa đa, tức cảnh thành thơ, thi sĩ Sảng Đình nhớ tới bài thơ “Qua Đèo Ngang tức cảnh” của bà Huyện Thanh Quan:

“… Nhớ nước đau lòng con quốc quốc,

Thương nhà mỏi miệng cái gia gia …”

 

Ông liền hạ bút dịch sang Hán văn:

“Bộ đáo hoành quan nhật dĩ tà,

Yên ba gian thạch, thạch gian hoa.

Tiều quy nham hạ ta ta thiểu,

Thị tập giang biên cá cá đa.

Đỗ vũ tâm thương thanh quốc quốc,

Giá cô hồn đoạn tứ gia gia.

Đình đình trữ vọng: thiên sơn hải,

Nhất phiến cô hoài: ta ngã ta”.

 

Bài thơ dịch này được nhiều người coi là tuyệt bút! Thơ dịch rất sát ý, sát lời; lại nói lên hai điển cố Đỗ Vũ và Giá Cô. Thật kho có thể dịch hay hơn được. Có người cho rằng hai câu “Đỗ Vũ tâm thương thanh quốc quốc, Giá Cô hồn đoạn tứ gia gia” còn xuất sắc hơn hai câu “Nhớ nước đau lòng con quốc quốc, Thương nhà mỏi miệng cái gia gia” của bài gốc. Bài thơ được ngâm lên trước sự hiện diện của bá quan văn võ Trung Việt, ai ai cũng vui vẻ và tấm tắc ca ngợi tài làm thơ của người Việt Nam.

 

Bố tôi là em út trong nhà, nên được cha Thích rất cưng chiều, mỗi mùa hè đều được theo cha Thích học tiếng Pháp, học vẽ hình Đức Mẹ sao cho giống, học hát các bài hướng đạo, học cò cưa vĩ cầm… Năm 1939 khi bố tôi nhận được học bổng sang Pháp học, khi cả đại gia đình ra ga để tiễn chân (phải đi tàu vào Sài Gòn rồi chờ tàu thủy sang châu Âu) thì khi tàu chuyển bánh có duy nhất cha Thích chạy theo tàu, dặn dò người em phải học cho thật giỏi. Hình ảnh người anh gày gò liêu xiêu chạy theo tàu hỏa được người em luôn ghi nhớ trong tâm khảm. Cha Thích đã làm bài thơ tiễn em, trong đó có những câu:

… Bốn biển anh em ta …                                Đi đi em Hy Hiền

Đi đâu chẳng là nhà?                                     Chúc em đi bình yên

Nhưng theo thầy chọn bạn,                         Yêu em anh lại chúc

Cầu tinh chẳng cầu đa.                                  Hy Thánh với Hy Thiên.

                                                                            (Anh: J.M.Thích)

 

Nhưng trên hết người ta nhớ tới cha Thích cho tới tận bây giờ bởi tấm lòng vàng của cha đối với muôn người. Qua những câu chuyện kể về bác, tôi cứ hình dung ra một Giăng Van Giăng khi đã tìm ra ánh sáng niềm tin ở Đức Chúa. Chẳng hạn mẩu chuyện sau, không hề hy hữu đối với những người biết cha ở Huế. Một hôm, cha đạp xe đạp nhà xứ Kim Long đến dạy học tại Đại chủng viện Kim Long, tình cờ bắt gặp một người đàn ông áo quần xơ xác đang chặt trộm buồng chuối của chủng viện. Thấy cha, ông ấy hoảng hốt toan bỏ chạy. Cha ôn tồn gọi người đó lại, móc túi đưa thêm ít tiền rồi nói: “Bác có muốn ăn chuối non nầy thì phải thêm cái gì để nấu ăn chứ. Bác cầm lấy chút tiền nầy mua tôm tép gì thêm vào cho đủ vị”. Vừa nói, cha vừa đưa tiền rồi đi vào dạy học”. Lại chuyện khác xảy ra làm rúng động thành phố Huế: Năm 1950, một bác sĩ tổ chức hội chợ từ thiện, với sự cộng tác của cha Thích. Giữa mấy gian hàng bày trò chơi lại có một sòng bạc thu hút nhiều khách. Cha Thích phản đối: “Cờ bạc không thể đi đôi với việc từ thiện”. Trưởng ban tổ chức không chịu nghe, cha Thích liền lấy micro khuyến cáo dẹp sòng bạc đó. Bác sĩ tổ chức giật micro trong tay cha. Trong lúc giằng co, bác sĩ tát vào má cha. Hồn nhiên và khiêm tốn, cha liền đưa má kia và nói: “Còn má này nữa, xin ngài hãy đánh cho đỡ giận”. Mọi người vây quanh đều sửng sốt ngỡ ngàng. Có người đã thốt lên: “Phải là một đấng thánh mới làm được như vậy!” Cuối cùng, ông trưởng ban tổ chức đã cúi đầu xin lỗi cha.

 



Huế ngày xưa bé lắm, hầu như ai cũng biết cha Thích với chiếc xe đạp cà tàng nặng trịch tróc sơn. Và ai cũng biết đấy là người luôn sẵn sàng giúp đỡ người khác hết lòng, nhất là đối với trẻ em. Cha tự lập ra một nhà trẻ có lẽ đầu tiên ở Việt Nam, với cái tên Hương Linh (“những linh hồn trong trắng”). Xin hãy nghe lời kể của bác Đã (hiệu Đa Nguyên) năm nay đã U80, Việt kiều Mỹ:

“Cha Thích lập vườn trẻ Hương Linh ở số 1 Lê Lợi, Huế, ở gần cầu ga bắc ngang sông An Cựu. Đó là khu đất có vườn rộng, có nhà hai tầng, cha ở tầng trên để thờ phụng Chúa, tầng trệt dành cho các công việc khác, trong vườn xây hai căn nhà để làm nhà trẻ cho trẻ con đem đến gửi để học, tầm ba bốn chục đứa bé. Cha mướn bốn năm thày cô giáo bởi tự đưa ra điều kiện: 10 trẻ phải có một cô giáo. Các gia đình khá giả biết tiếng Cha đem con cái đến gửi khá đông. Cha mua một chiếc xe, có anh tài xế và một cô bảo mẫu tên Nghi kiêm đi chợ thổi cơm. Chiếc xe có nhiệm vụ đưa đón học sinh (mô hình thế là rất hiện đại đấy), ngoài ra cha nuôi thêm gia đình chú Dụng, là người làng nghèo khó ra đây giúp việc cho cha. Trẻ em được gia đình tới gửi đông thế mà tháng nào vườn trẻ cũng lỗ vốn, bởi vì chúng tôi!

Tôi đến với Cha năm 1959, khi đó đã 15 tuổi rồi mà mới học được mấy lớp tiểu học sơ khai thôi, vì nhà nghèo cha lại mất sớm. Có người quen nghe tiếng cha hay giúp cho con nhà nghèo đi học đã giới thiệu mẹ tôi dẫn tới gửi cha Thích – cha nhận ngay, người làng mà! Sau này tôi mới biết chả phải người làng mà trẻ em các làng ven Huế khó khăn cứ tới, miễn muốn học thì cha nhận hết! Khi tôi tới thì tổng cộng có 14 đứa trong đó có một anh lớn học sư phạm, còn lại toàn học tiểu học cả. Gia đình mỗi đứa trẻ hàng tháng phải “góp” 60 lon sữa bò gạo, tất cả đổ vào một cái lu chung – vừa đủ cơm cho chúng tôi ăn thôi, còn lại thức ăn, quần áo sách bút rồi tiền học hàng tháng cha Thích cho hết. Cho để chúng tôi hàng ngày đi học – xa thì xe chở đi, gần như tôi học tiểu học Bình Linh bên cạnh đó, do các thầy dòng La Sang dạy. Tức là sáng chúng tôi đi học thì bọn trẻ em tới hai cái nhà vườn trẻ đó, chiều tối chúng nó về nhà thì chúng tôi về, lại ăn ngủ ở đấy luôn. Chúng tôi phụ giúp cô Nghi nấu cơm, dọn dẹp rồi lại phải học, đôi khi cha Thích xuống giảng bài cho chúng tôi, hay chia cho quà bánh, lê táo, kẹo sô cô la… là những của ngon người ta dâng cha, thì cha lại chia sẻ với bọn chúng tôi. Công tắc đèn phòng chúng tôi nằm trong phòng cha Thích – Ngài chỉ cho học đến 9h rồi bắt đi ngủ sớm. Sáng 4h cha đã dậy rồi, pha trà với đường phèn uống rồi cầu kinh, cha bắt chúng tôi dậy sớm thế để rửa ráy rồi tập thể dục, xong rồi học bài trước khi tới lớp, cha hay nhắc “dậy sớm cho thông minh!”.

Cha lương cao lắm, lại hay được thỉnh bay đi Sài Gòn, Đà Lạt giảng bài triết với văn học, nên mỗi tháng lĩnh tới 25 ngàn đồng, bằng lương nghị sỹ thời đó đấy, chưa kể 6000 tiền phụ cấp nhà thờ trả cho vì làm các khóa lễ nữa! (Chỉ chúng tôi ở gần ngay bên cha Thích, như con cháu trong nhà thì mới được biết ngọn nguồn như vậy!). Cha cao, gầy, gương mặt trắng sáng nhưng khắc khổ, cha không ăn cùng chúng tôi nhưng bọn tôi quá biết cô Nghi nấu cho cha Thích cũng chả khác gì những đồ chúng tôi ăn. Thế nhưng tháng nào cha hết tiền tháng đó! Ngoài phải nuôi bao cấp mười mấy đứa trẻ chúng tôi, cha còn nuôi người làm, trả tiền thuê giáo viên, lái xe, rồi các gia đình khó khăn ở họ đạo Kim Long mà có người già đều được cha cho mỗi tháng 300 đồng. Người ăn xin ngày nào cũng đến, nhiều lúc cha chẳng còn tiền thì gọi người làm xúc gạo cho họ vậy! Tôi nhớ nhất năm 1963 có lần cha ốm sốt, gọi tôi lên đưa tiền chỉ cho đi ra ga tàu mua hộ cha bát phở vì cha tự nhiên thèm. Tôi bưng bát phở về, mùi thơm ngào ngạt vô cùng cám dỗ, là cái thứ cả đời tôi chưa bao giờ được nếm thử. Có lẽ thấy vậy cha bảo tôi lấy một chén nữa, rồi múc ra đưa tôi, còn lại trong tô thì cha ăn. Hai người xì xụp, đối với tôi đó là chén phở đầu tiên và ngon nhất trên đời! Tôi ở đó 4 năm được nhờ ân của cha, thấy mình lớn quá đi học với các em bé cũng ngại, đành lén đi thi đỗ được vào trường Nông Lâm Súc. Đến khi về báo tin với cha, xin phép chuyển đi sang đó học nhưng cũng nói thật là chả biết sống bằng gì, thì cha Thích bảo không sao, cứ chuyển đi nhưng hàng tháng qua đây cha vẫn cho 300 đồng mà trả tiền cơm. Có lần tôi y hẹn đến nơi cha để nhận tiền, cha lục cả người không có đồng nào, lục cả nhà cả cửa ra chỉ tìm được mỗi tờ 200 thế nào vẫn sót lại để đưa tôi, cha Thích cũng mừng còn tôi vừa mừng vừa thương cha vô cùng! Thế là cha lại nuôi tôi thêm mấy năm trời nữa, cho đến khi tôi bị bắt lính mới thôi… Suốt đời tôi không bao giờ quên ơn cha Thích, người mà không chỉ tôi, tất cả những đứa trẻ đã ở cùng bên cha đều coi cha Thích là một ân nhân và là một vị Thánh!”.

 

Ở Huế ai cũng biết cha, nhất là đám con nít, nhiều khi đang đi ngoài đường thấy chúng chơi mấy trò nhi đồng cha cũng dừng lại rồi chơi chung luôn với chúng. Người nghèo khó thì càng biết cha, cha sẵn sàng cởi ngay cái áo khoác bên ngoài ra cho người nào áo quần rách rưới. Đến khi về già cha Thích cũng không giữ được vườn trẻ Hương Linh nữa, cha quay về ở tại Tòa Tổng giám mục để có người chăm sóc. Thế rồi 1975, Huế giải phóng, rồi thống nhất hai miền…

 

Bố tôi – người em út đi Pháp học năm nào – nay cũng cao tuổi rồi, là một trong những cán bộ được giao trọng trách từ ngoài Bắc vào Nam để tiếp quản các cơ sở khoa học kỹ thuật về mặt dân sự. Ông vào Sài Gòn rồi tìm ra lại được họ mạc của mình, một số đã đi di tản trước tháng 4/1975, gặp lại được các chị, chị dâu, các cháu… vì từ đợt 68 rất nhiều người từ Huế đã di cư về Sài Gòn. Ngoài Huế chỉ còn cha Thích và mấy người cháu họ, bố tôi mấy lần về thăm quê và thăm được người anh thứ hai thương mến sau 36 năm xa cách, nay anh cũng đã U90 rồi. Hai anh em hàn huyên đủ thứ chuyện trên trời dưới bể, cũng nhiều khi tranh luận bất phân thắng bại về triết lý, về cộng sản, về đạo và đời… Tôi còn bé nên không được vào Huế khi đó, chỉ nhớ bố tôi có mang ra mấy băng cassette thu các bài hát hướng đạo mà bác tôi hát, thu bằng một cái máy chỉ to như cái bánh chưng.  

 

Ở Huế khi đó gia đình các bác trong họ của tôi đã đi sang Mỹ gần hết rồi, để lại cái nhà và đất khá lớn ở khu nội đô, là nhà của bác cả khi xưa cho người ở lại sống và thờ phụng ban thờ ông bà tổ tiên. Sau thống nhất có một tay N.V.Q. biệt hiệu là Húng, trước kia cùng làng chúng tôi, theo vai vế phải gọi cha Thích hay bố tôi là anh họ nhưng không hiểu sao đặc biệt hằn học với con cháu nhà cụ Thượng Niêm Phò, hắn thuộc loại ít chữ, võ biền chả mấy ai ưa, nhưng thế nào leo lên được chức Phó bí thư khu ủy Bình Trị Thiên, rồi làm đại sứ (cách mạng lâm thời) tại Trung Quốc nay về làm bí thư tỉnh ủy. Khi thấy khu nhà này bị Ủy ban Quân quản chiếm (vốn là chuyện bình thường lúc đó, những nhà vô chủ đều có thể được trưng thu tạm sử dụng) hắn tác động để cho một tay thiếu tá bên binh chủng pháo binh sung công quỹ miếng đất này, thực ra là vô cớ chiếm cứ luôn chứ chẳng phải quân đội có nhu cầu gì bức thiết phải lấy 800 mét đất nhà vườn trong nội đô ở Huế ấy, hồi đó như vậy cũng không phải là quá giá trị về mặt vật chất. Nhưng đó là nơi thờ phụng ông bà, tổ tiên họ nhà tôi, sau bộ đội thì đến công ty thủy sản, rồi công ty Việt Lào chiếm, rồi cuối cùng các cán bộ hóa giá chia nhau ! Và lạ chưa, cha Thích là người duy nhất phản đối kịch liệt màn kịch đó - một linh mục cả cuộc đời không bao giờ biết bon chen, không nghĩ gì đến bản thân mình, sẵn sàng cho người dưng đến đồng bạc cuối cùng mà nay lại dám tranh chấp nhà đất với chính quyền vì cái nơi mà ông không ở!  lần họ đến để cưỡng chế (là từ hồi đấy còn chưa ai sử dụng) phần đất cuối cùng thì cha Thích lấy cây mandolin ra vừa đàn vừa hát:

“Cái nhà là nhà của ta. Công khó ông cha lập ra. Cháu con phải gìn giữ lấy. Muôn năm với nước non nhà. Xóm làng là làng của ta. Xương máu ông cha làm ra. Chúng ta phải gìn giữ lấy. Muôn năm với nước non nhà... Cõi đời là đời của ta. Nuôi dưỡng công lao mẹ cha. Lớn khôn để gìn giữ nước. Thay nhau xây đắp sơn hà”.

 

Cha Thích có lẽ là “dân oan” đầu tiên của nước ta sau thống nhất, dám bảo vệ đất ông cha! Bố tôi ở ngoài Hà Nội cũng sốt ruột lắm, không nghĩ được cách gì hơn là đến gặp ông bạn cùng lớp khi xưa, hai nhà cách nhau con sông ��Lô giang” đấy, bác Nguyễn Kim Thành  tức Tố Hữu, nay đã là Trưởng ban Tuyên giáo. Bác Tố Hữu cũng đành lắc đầu, rồi giải thích rằng nước xa không cứu được lửa gần, mà chả nói chuyện đâu xa ngay người nhà trong họ của bác ấy cũng bị mất hai cái nhà ở Huế, có giúp đươc gì đâu! Cuối cùng những người trong họ nhà tôi chỉ giữ được một phần vườn phía sau thôi, còn gian nhà chính và hầu như cả khu đất rơi vào tay người ngoài…

 

 

Thế rồi cha Thích ốm rồi về nước Chúa, khi đó là cuối năm 1978. Bà con trong quê đánh điện ra Hà Nội  chậm, chúng tôi nhận được chỉ sau 2 ngày. Bố tôi vội đến nhà đại tướng Võ Nguyên Giáp để nhờ ông xem có cách nào giúp vào Huế ngay dự lễ truy điệu và mai táng của cha Thích không (vì khi đó đại tướng đang phụ trách khoa học kỹ thuật nên là “thủ trưởng” của bố tôi, và ông biết tiếng cha Thích ngay từ khi đang học ở Quốc học Huế). Đại tướng nói: “May quá, có máy bay chở tôi có thể sắp vào Đà Nẵng đấy, tôi sẽ hỏi họ có đi ngay được không, thêm anh vào chắc cũng không tăng lên hơn 60kg…”. Đồng chí thư kí nói: “máy bay có thể bay nếu đại tướng ra lệnh”. Thế là bố tôi cùng phi công lên ngay Nội Bài để vào Đà Nẵng cho kịp, mang theo một thư riêng của đại tướng nói với Uỷ ban hành chính Quảng Nam – Đà Nẵng: giúp cho ông Tâm một chiếc ô tô đi ra Huế ngay cho kịp lễ truy điệu cha Thích. Vào hồi 5 giờ chiều cùng ngày bố tôi đã đến được nhà thờ Kim Luông ở Huế, nhưng tiếc thay, họ đã đưa cha ra nghĩa địa rồi. Vài chục phút sau, đoàn chức sắc của nhà thờ Kim Luông trở về, gặp bố tôi ngồi chờ, họ trao lại cho một số hiện vật kỉ niệm của cha Thích mà họ đã định đưa cho gia đình. Chỉ có được một vài cuốn bút kí của cha, vài cái khăn mặt và một bộ áo quần của cha để thay ngày thường, không có bất cứ tiền bạc hoặc hiện vật nào quý giá. Riêng nhà thờ thì xin giữ các bức hội hoạ của cha để làm kỉ niệm và trang trí nhà thờ. Cha an táng tại nghĩa địa các linh mục phía sau núi Thiên Thai... 

Nhưng Huế không quên cha Thích. Mấy năm sau một người bà con họ xa khác của chúng tôi lên làm Phó chủ tịch tỉnh, còn tay chủ tịch tỉnh võ biền kia đã về vườn, chính người này đã giúp đỡ để làm được giấy tờ cho phần đất nhỏ mà họ hàng chúng tôi vẫn giữ được, và nay là nơi gia đình người cháu đích tôn ở và phụ trách việc phụng thờ cho tổ tiên, ông bà dòng họ Nguyễn Hy. Cha Thích được tôn vinh là một “Gương mặt Công giáo tiêu biểu và nổi bật” đối với cộng đồng trong nước và cả các cộng đồng tại nước ngoài; không ngờ cho đến tận ngày nay vẫn nhiều người nhắc và kể chuyện về Cha như thế! Người ta rất quý trọng cha vì học thức uyên bác của cha, vì nhiều tài năng của cha và nhất là vì đời sống thánh thiện của cha mà tất cả giáo dân của Trung kì và Nam kì trước kia và sau này đều biết. Có một phong trào của bà con giáo dân ở Mỹ mong muốn Vatican phong thánh cho cha Thích, có tin đồn là Đức Giáo hoàng đã đồng thuận vì biết về đời sống thánh thiện của cha, nhưng theo thủ tục Vatican bắt buộc cần có một “phép lạ” từ cuộc đời người xin phong thánh mới xét toàn bộ hồ sơ… Đối với chúng tôi và rất nhiều người Việt Nam cha Thích đã là thánh ngay từ lúc ông còn sống rồi!

 


 

Bonus: Kỷ niệm 20 năm (1993 – 2013) và cũng nhân ngày quốc tế thiếu nhi sắp tới, ekip thực hiện Tuổi Thần Tiên ngày xưa muốn dựng một show hoành tráng, đồng thời đánh dấu sự trở lại của đạo diễn Tất My Loan – người được coi là cha đẻ của chương trình nổi tiếng này, sau nhiều năm ẩn dật. Tất My Loan bắt tay dàn dựng một tiết mục mà anh tâm huyết nhất, từ ca khúc “Cái nhà của ta”. Tuy nhiên Hội đồng kiểm duyệt đã quyết định loại bài này ra khỏi chương trình với lý do không cho phép là không biết tên tác giả (!)

(nghe bài hát “cái nhà”: https://www.youtube.com/watch?v=ngkOmlmEhH4 

Bài hát “Nhà của ta” này vẫn được các cháu người Việt hát khắp thế giới:

https://www.youtube.com/watch?v=ZfIcDDZ3f1c&feature=youtu.be&t=155 )

 

Nhiều người nay đã 80,90 tuổi và không hề quên đã từng là những đứa trẻ được cha Thích đỡ đầu ở Vườn trẻ Hương Linh năm nào! Chẳng lẽ đây không là một trong rất nhiều “phép lạ” của Đức Cha linh mục Giuse Maria Nguyễn Hy Thích?

 

Lời cuối: nội dung được viết dựa theo các sách “Tưởng rằng đã quên” (của tác giả Lê Tâm tức Nguyễn Hy Hiền); “Sảng Đình thi tập” (tác giả Đoàn Khoách - cháu rể của cha Thích chủ biên); “Lô Giang tiểu sử” (tác giả: cụ Tiểu Cao Nguyễn Văn Mại); “Hậu duệ cụ Tiểu Cao”, theo lời kể của một số nhân chứng cũng như nhiều bài viết trên mạng của giáo hội cũng như những người đã từng biết và yêu thương cha Thích.


Xem và bình luận tại đây: https://www.facebook.com/namhhn/posts/3174499632611952 


Ý kiến không được cho phép