NGƯỜI VIỄN ĐÔNG

Nơi chia sẻ và lưu giữ các bài viết của Nam Nguyen

Nhất Linh Nguyễn Tường Tam

(Bài của tác giả Đông Kiên FB)


Nguyễn Tường Tam nguyên quán Quảng Nam, sinh năm 1906 tại Cẩm Giàng, Hải Dương, có em là Nguyễn Tường Long, tức Hoàng Đạo và Nguyễn Tường Lân, tức Thạch Lam... Nguyễn Tường Tam là một trong khoảng 30 sinh viên nhận học bổng sang Pháp du học của "An Nam Như Tây Du Học Bảo Trợ Hội" do triều đình Huế (Hoàng đế Bảo Đại và người đứng đầu Cơ mật viện, Thượng thư Nguyễn Hữu Bài) chủ trương. Những học sinh khác nhận học bổng này có thể kể tới Phạm Đình Ái, Nguyễn Xiển, Hoàng Xuân Hãn, Tạ Quang Bửu, Ngụy Như Kontum, Thái Can, Lê Viết Hường, Hoàng Xuân Nhị...


Nguyễn Tường Tam sang Pháp năm 1927, học xong cử nhân khoa học rồi về nước năm 1930. Trong thời gian dạy học tư tại trường tư thục Thăng Long đầu những năm 1930, Nguyễn Tường Tam gặp Trần (Khánh) Giư, kết thành tri kỷ, cùng làm tờ Phong Hóa. Nguyễn Tường Tam lấy bút danh Nhất Linh, Trần Giư lấy bút danh Nhị Linh (nhưng được biết đến nhiều hơn với bút danh Khái Hưng). Phong Hoá là tờ báo quảng cáo rộn ràng cho trường tư thục Thăng Long, một trong cái nôi trí thức cách mạng Việt Nam. Ít nhất đến tháng 9/1933 Nguyễn Tường Tam vẫn đứng tên trong nhóm quản lý trường Thăng Long cùng Phạm Hữu Ninh. Từ năm 1933, Nhất Linh, Khái Hưng, Hoàng Đạo, Thạch Lam, rồi thêm Nguyễn Gia Trí, Thế Lữ, Tú Mỡ, Xuân Diệu là nhóm nòng cốt làm nên Tự lực văn đoàn. Cả xã hội và văn đàn thủa ấy xôn xao với Hồn bướm mơ tiên (1933), Nửa chừng xuân (1934), Tiêu Sơn tráng sĩ (1934), Gia đình (1936), Thoát ly (1937), Thừa tự (1938), Đoạn tuyệt (1934), Lạnh lùng (1936), Đôi bạn (1937), Con đường sáng (1938)...

 

Năm 1934, gần chục người, mỗi người đóng mấy trăm đồng, gồm Hoàng Minh Giám, Phan Thanh, Đặng Thai Mai, Đặng Vũ Xích, Phạm Hữu Ninh, Nguyễn Cao Luyện, Nguyễn Dương cùng nhau thành lập Hội mở mang nền tư thục (Association Pour Le développement I'énseignement) gọi tắt là ADEL. Hội này chọn trường tư thục Thăng Long của Phạm Hữu Ninh làm cơ sở, để ngưỡng vọng và theo gương "Đông Kinh nghĩa thục" mà thân phụ Hoàng Minh Giám là Hoàng Tăng Bí là một yếu nhân. Các thành viên của hội bàn với Phạm Hữu Ninh nâng cấp trường, mở rộng cơ sở và đào tạo lên cấp tú tài (Trung học phổ thông hiện nay). Việc chuẩn bị mở mang được quảng cáo thường xuyên trên Phong Hóa của Nguyễn Tường Tam, dù từ 1935 không còn thấy tên Nhất Linh Nguyễn Tường Tam trong danh sách giáo viên. Trường mới ban đầu do Nguyễn Bá Húc làm hiệu trưởng, nhưng Húc đột ngột ốm nặng, nên Hoàng Minh Giám trở thành hiệu trưởng. Tháng 9/1935 trường tư thục Thăng Long khai trương cơ sở mới, có cả ký túc xá cho học sinh ở xa và phòng thí nghiệm lý - hóa - sinh, ở số 20 phố Bourret (Ngõ Trạm). Ban đầu đây là một dãy nhà một tầng, kiến trúc sư Nguyễn Cao Luyện vận động được một nhà thầu có lòng tốt nâng lên hai tầng, tiền còn thiếu cho trả dần.

Ít nhất đến tháng 10/1935 Võ Nguyên Giáp chưa có tên trong danh sách giáo viên giảng dạy. Có lẽ Võ Nguyên Giáp bắt đầu vào dạy ở trường tư thục Thăng Long từ đầu năm 1936. Khoảng thời gian này Võ Nguyên Giáp đón vợ đầu Nguyễn Thị Quang Thái ra Hà Nội, thuê nhà ở phố 149 phố Henri d’Orléans (Phùng Hưng). Ngôi nhà Thái - Giáp sẽ là nơi đi lại của nhiều yếu nhân Đảng Cộng sản như Trường Chinh, Nguyễn Văn Cừ, Nguyễn Chí Diểu...

 

Từ 1939 anh em Nguyễn Tường Tam bỏ văn chương đi làm chính trị, thành lập Đảng Hưng Việt, rồi đổi thành Đại Việt Dân Chính, với vài chục người, có xu hướng thân Nhật, công khai chống Pháp.

Tháng 9/1940 Phục Quốc Quân của Trần Trung Lập theo Sư đoàn 5 Nhật Bản tiến vào đánh Pháp ở Lạng Sơn theo ngả Đồng Đăng. Cuối tháng 9, Pháp - Nhật đạt được thỏa hiệp để Nhật rút quân, Pháp tái chiếm Lạng Sơn. Trần Trung Lập, Đoàn Kiểm Điểm không nghe lời khuyên rút quân của đại tá Nakai Masutaro và Trần Phước An (Tức Trần Hy Thánh, tức Shibata, người Vĩnh Long, được cha gửi gắm sang Tokyo co Phan Bội Châu và Cường Để từ năm 1907) ở lại tử thủ, sau bị bắt và bị xử bắn. Hoàng Lương và Lương Văn Ý đưa một cánh quân chạy về Trung Quốc.

Tháng 10/1940 trước áp lực của mật thám Pháp, Nguyễn Tường Tam nhờ Đại tá Koike trong Đoàn Kiểm soát Quân sự Nhật đưa sang Quảng Châu, rồi nương nhớ nhóm Phục Quốc Quân của Hoàng Lương. Sau này Nguyễn Tường Tam có liên hệ đến vụ (sai Hà Tôn Lý) ám sát Trần Phước An (Shibata) vào 22/7/1943 nên đã trốn sang Quảng Tây, lúc đó vẫn do chính phủ Tưởng Giới Thạch kiểm soát. Ở đây, Nguyễn Tường Tam bị nghi là gián điệp của Nhật nên bị Trương Phát Khuê bắt giam ở Liễu Châu. Cùng bị giam ở Liễu Châu lúc này còn có Nguyễn Ái Quốc hiện sử dụng giấy tờ hết hạn với tên Hồ Chí Minh.

Mùa hè 1943, Trương Phát Khuê muốn cải tổ Việt Nam Cách Mạng Đồng Minh Hội (Việt Cách), vốn đang mâu thuẫn nội bộ gay gắt, giao cho Tiêu Văn thực hiện. Tiêu Văn trao đổi với Hồ Chí Minh về việc triệu tập đại hội chỉnh đốn Việt Cách bằng cách đưa một số người mới vào ban lãnh đạo, trong đó có Hồ Chí Minh. Hồ Chí Minh đề nghị nên để cả Nguyễn Tường Tam tham gia. Đại hội họp tại Liễu Châu từ 25 đến 28/3/1944, gồm 15 đại biểu các đoàn thể, thông qua các quyết nghị và bầu Ban Chấp Hành mới, gồm có 7 ủy viên chính thức; Hồ Chí Minh và Nguyễn Tường Tam được bầu làm Ủy viên dự khuyết. Sau Trần Đình Xuyên bị gạt, Hồ Chí Minh trở thành ủy viên chính thức.

Nguyễn Tường Tam hoạt động trong Việt Cách đến cuối năm 1944, sau khi Nhật chiếm Liễu Châu thì Tam chạy tới Vân Nam tham gia VNQDĐ hải ngoại bộ của Vũ Hồng Khanh - Nghiêm Kế Tổ.

Ngày 12/4/1945, một phái đoàn của Đại Việt Quốc dân Đảng cùng một số đảng viên Đại Việt Dân Chính Đảng, VNQDĐ do bác sĩ Nguyễn Tiến Hỷ, bạn học của Trương Tử Anh, bí mật sang Trung Quốc thỏa thuận cùng Nguyễn Tường Tam, Vũ Hồng Khanh... hợp nhất 3 đảng, dùng tên Việt Nam Quốc Dân Đảng ở hải ngoại, còn ở trong nước vẫn dùng tên Đại Việt Quốc dân Đảng. (Cuối năm 1945 tổ chức này công khai với danh xưng Mặt trận Quốc dân Đảng, gọi chung là Việt Nam Quốc dân Đảng, hay Việt Quốc)

Trong hồi ký Tại sao Việt Nam của mình, A. Patti cho biết khi Hồ Chí Minh về đến 48 Hàng Ngang soạn thảo Tuyên Ngôn Độc Lập, Hồ Chí Minh đã lệnh cho Võ Nguyên Giáp nhờ Patti chuyển thư qua cơ quan AGAS (cơ quan hỗ trợ mặt đất của Mỹ) ở Trung Quốc tới Nguyễn Tường Tam để báo tin: "Việt Minh đã thành lập Chính phủ Cộng hoà Lâm thời. Nhân danh cá nhân, tôi mời ông về Hà Nội". Bức điện được chuyển từ ngày 31/8/1945.

Đầu năm 1946, Nguyễn Tường Tam trở về Hà Nội, xuất bản báo Việt Nam (chống Việt Minh). Đầu tháng 3 năm 1946, Nguyễn Tường Tam được giao giữ chức Bộ trưởng Ngoại Giao trong Chính phủ Liên Hiệp Kháng chiến, đặc cách tham gia Quốc Hội khóa I không qua bầu cử.

Nguyễn Tường Tam cũng làm Trưởng đoàn Việt Nam dự Hội nghị trù bị Đà Lạt đàm phán với Pháp. Theo "ký vãng" của Hoàng Xuân Hãn, dù có lúc ốm đau, dù hội nghị thất bại, nhưng Tam đã giữ trọn thể diện quốc gia. Tam cũng được cử đứng đầu Phái đoàn Việt Nam dự Hội nghị Fontainebleau nhưng không đi mà đào nhiệm, bỏ trốn sang Trung Quốc tháng 5 năm 1946 sau khi biển thủ một khoản công quỹ lớn, được cho là dùng mua vũ khí cho VNQDĐ để chống chính phủ..

Mùa xuân 1947 Nguyễn Tường Tam cùng Nguyễn Hải Thần tiếp xúc với cựu hoàng Bảo Đại đã chạy sang Hong Kong với hy vọng thành lập một đồng minh chống Cộng sản nhưng từ bỏ Bảo Đại khi thấy Bảo Đại quyết định đi lại với Pháp. Trước sau Nguyễn Tường Tam giữ lập trường chống Pháp và cũng chống Việt Minh, không hợp tác với Việt Minh chống Pháp.

Năm 1949, Nguyễn Tường Tam trở về Hà Nội, tuyên bố không hoạt động chính trị nữa. Khoảng mùa xuân năm 1951, Nguyễn Tường Tam từ Hà Nội vào Sài Gòn cư trú. Ở đây ông cho in lại các tác phẩm cũ và viết tác phẩm mới. Năm 1953, ông lên Đà Lạt ở ẩn, lấy chơi hoa phong lan làm thú vui. Năm 1958 Nguyễn Tường Tam trở về Sài Gòn, hoạt động văn nghệ, ấn hành tờ tạp chí Văn Hóa Ngày Nay, được 11 số thì đình bản.

Năm 1960, phản ứng lại đạo luật 10/59 Nguyễn Tường Tam cùng các nhà hoạt động khác thành lập Mặt trận Quốc dân đoàn kết chống đối chế độ Ngô Đình Diệm, ủng hộ cuộc đảo chính của đại tá Nguyễn Chánh Thi và Trung tá Vương Văn Đông. Cuộc đảo chính tháng 11/1960 thất bại, hầu hết những người liên can bị bắt. Chính quyền Diệm nhân cơ hội này cho bắt giam các lãnh tụ đảng phái, tôn giáo khác... chỉ mình Nguyễn Tường Tam được quản thúc tại gia hơn hai năm rưỡi. Ngày 5/7/1963 Tòa án quân sự đặc biệt Sài Gòn có trát đòi ông có mặt lúc 7 giờ 30 ngày 8/7/1963, tại Tòa thượng thẩm để nghe xét xử tội “xâm phạm an ninh Quốc gia”. Ngày 6/7/1963 trát này được tống đạt tới tận tay ông.


Ngày 7/7/1963, Nguyễn Tường Tam tự sát vì không chịu để tòa án của chính quyền Ngô Đình Diệm xét xử.


Nhà thơ Vũ Hoàng Chương viếng Tam đôi câu đối:

"Người quay tơ, đôi bạn, tối tăm, anh phải sống chứ sao đoạn tuyệt

Đời mưa gió, lạnh lùng, bướm trắng, buổi chiều vàng đâu chỉ nắng thu."

Trừ bốn chữ “chứ sao, đâu chỉ” ra, còn là tên tác phẩm của ông.


Tham khảo thêm: https://www.facebook.com/chinh.duongquoc.56/posts/1782540125232276



Ý kiến không được cho phép