NGƯỜI VIỄN ĐÔNG

Nơi chia sẻ và lưu giữ các bài viết của Nam Nguyen

LỊCH SỬ SẼ BIỆN MINH CHO ÔNG

 


(Rất dài, dành cho người đọc chậm)

 

Lời giới thiệu: Fidel Castro – nói về cuộc đời ông người ta không thể không nhắc tới phiên tòa lịch sử 21/9/1953, nơi ông vừa là bị cáo vừa là luật sư cho chính bản thân mình! Nhưng cụ thể thế nào, có những bài học nào cho chúng ta sau 70 năm... thì chả mấy ai còn nhớ (hoặc có biết đâu mà nhớ). Xin nêu lại những gì thu lượm được mà thôi, hy vọng những người đọc chậm sẽ tìm ra điều bổ ích cho bản thân và xã hội.

 

Bối cảnh lịch sử:

1952 Fidel Castro được đăng ký là ứng viên vào đại biểu tỉnh Havana để bầu vào Nghị viện của Cuba, thì lại nổ ra cuộc đảo chính, lên cầm quyền là đại diện quân đội thân Mỹ Fulgencio Batista, tay này giải tán Nghị viện và phế bỏ Hiến pháp cũ. Fidel cùng với Abel Cuadrado lập nhóm phản kháng “thế hệ của thế kỷ” và đặt mục tiêu lật đổ chính quyền Batista bằng con đường đấu tranh vũ trang. (Xin nhớ Fidel tuy đọc rất nhiều về chủ nghĩa Mác-Lê nhưng cả thời “cách mạng” chưa hề là người cộng sản, ông từng nói: “Tôi chỉ là người cộng sản nếu cho tôi làm Stalin!”).  26/7/1953 “Thế hệ của thế kỷ” tấn công trại lính to thứ hai trong nước ở Moncada, tỉnh Santiago-de-Cuba. Nhóm tấn công tổng cộng 95 người (người em Raul chỉ huy nhánh tấn công vào Tòa án ngay bên cạnh gồm 25 người) – nhưng rồi thất bại, 6 hy sinh tại trận, hơn 50 bị cảnh sát tra tấn và giết trong những ngày sau đó, Fidel cùng 20 quân chạy vào núi nhưng đến 01/8 thì bị quân đội bắt giữ.   

Fidel bị giam riêng, ông không biết em mình còn sống hay đã chết, và những tù binh khác không hề có tin tức gì về tính mạng của thủ lĩnh của mình. Ông tuyệt thực nhiều ngày để đòi “được giao tiếp” – ít nhất là được ngồi tù với người khác, nhưng vẫn bị giam giữ trong cô độc. 21/9/1953 phiên tòa xử ông và các chiến hữu bắt đầu – khi đó họ mới biết ai còn ai mất. Fidel vốn là luật sư, ông tự làm luật sư bào chữa cho mình (chính quyền độc tài nhưng cũng khá tôn trọng luật pháp, ông không phải đứng trước vành móng ngựa mà được đội mũ, khoác áo luật sư và tự bảo vệ “thân chủ” là chính mình... 16/10/1953 ông dưới danh nghĩa luật sư đã có bài phát biểu trước tòa kéo dài 5 tiếng đồng hồ - ông nhận hoàn toàn trách nhiệm về mình, và bài phát biểu lịch sử này chính là chương trình đấu tranh tiếp theo của cách mạng Cuba.

 

Bất chấp bài tự bào chữa xuất sắc ấy Fidel bị tuyên 15 năm tù, người em Raul lĩnh 13 năm, bị đày ra đảo Pinos. Nhưng chỉ đến 1955 Batista dưới áp lực quá lớn của xã hội đã phải khoan hồng cho các chiến binh... Họ chạy sang Mexico và lập tức hành động theo chương trình đã được Fidel nêu ra ở tòa, lập đội quân “26/7” – có thêm sự tham gia của công dân Argentina Che Guevara. Kế hoạch khởi nghĩa được nghiên cứu khá kỹ lưỡng,  25/11/1956 trên tàu “Granma” có 85 chiến sỹ vượt biển sang Cuba. Cuộc chiến du kích bắt đầu, khởi đầu rất cam go, trụ lại được có 20 chiến sỹ mà thôi, nhưng đội ngũ của họ dần đông lên... 01/1/1959 Batista bỏ chạy sang Dominicana, 08/1 đội du kích do Fidel dẫn đầu vào tiếp quản thủ đô La Havana. Ông trở thành thủ tướng và tổng chỉ huy quân đội của các lực lượng cách mạng Cuba. Thực sự trở thành “Stalin” như mong đợi từ hồi trẻ, ông bỏ ước mơ về nông thôn làm luật sư không công cho bà con, muốn bắt tay với Mỹ nhưng đế quốc này không chấp nhận chính quyền cách mạng của Fidel – ông tuyên bố Cuba sẽ đi theo con đường XHCN. Các lực lượng phản gián trong và ngoài nước đã tìm cách ám sát ông 638 lần, nhưng ông chỉ mất đi khi đã già vào 2016, thọ 90 tuổi! Và lịch sử sẽ biện minh cho ông...  

 

 

Bài phát biểu của Fidel Castro tại phiên tòa xét xử những người tham gia vụ tấn công doanh trại Moncado ở thành phố Santiago de Cuba – 16/10/1953

 

Thưa các vị thẩm phán!

 

Chưa bao giờ luật sư phải thực thi nhiệm vụ của mình trong điều kiện khó khăn như vậy; chưa bao giờ bị cáo phải chịu nhiều hành xử tùy tiện tàn bạo đến thế. Trong trường hợp này, luật sư và bị can là một và cùng một người. Là một luật sư, tôi thậm chí không thể đọc bản cáo trạng; Là một bị cáo, tôi đã bị biệt giam 76 ngày, trong sự cách ly nghiêm ngặt nhất, trái với tất cả các giới luật của đạo đức con người và pháp luật.

 

Người bây giờ đang phát biểu, với tất cả tâm hồn của mình, ghét sự phù phiếm ngây thơ, tinh thần và tính khí của anh ta xa lạ với lập trường của tòa án và thói chạy theo hư danh giất gân. Và nếu tôi phải tự bào chữa trước tòa án này, thì điều này là do hai lý do: thứ nhất là tôi thực tế đã bị tước mất bất kỳ cơ hội nào để sử dụng biện pháp bào chữa khác; điều thứ hai như sau: chỉ có người bị mang một vết thương sâu như vậy, chỉ có người nhìn thấy quê hương của mình quá vô vọng, và công lý bị chà đạp thê thảm, trong trường hợp này mới có thể tìm thấy lời nói đúng đến từ chính trái tim và chính là sự thật.

 

Có rất nhiều người bạn cao thượng muốn nhận bảo vệ cho tôi. Hiệp hội Luật sư Havana đã quyết định rằng quyền lợi của tôi sẽ được đại diện trong trường hợp này bởi một luật sư có năng lực và can đảm, Tiến sĩ Jorge Paglieri, Trưởng đoàn Luật sư của thành phố đó. Tuy nhiên, anh ấy đã bị ngăn cản để hoàn thành nhiệm vụ của mình. Mỗi lần anh ta cố gắng gặp tôi, cửa nhà tù đã đóng chặt với anh ta. Chỉ sau một tháng rưỡi, và sau đó nhờ sự can thiệp của tòa án, anh ta được phép nói chuyện với tôi trong mười phút trước sự chứng kiến của một trung sĩ tình báo quân đội. Được biết, luật sư có quyền nói chuyện riêng với thân chủ của mình. Quyền này được tôn trọng ở bất cứ đâu trên hành tinh, trừ khi chúng ta đang nói về một tù nhân chiến tranh Cuba, người đã rơi vào vòng kiềm tỏa của chế độ chuyên quyền tàn ác không công nhận các chuẩn mực hay luật lệ chung của con người. Cả tiến sĩ Paglieri và tôi đều không sẵn sàng dung thứ cho kiểu nghe lén bẩn thỉu này về kế hoạch biện hộ của chúng tôi. Có lẽ họ muốn biết trước bằng cách nào mà toàn bộ đống dối trá mà họ bịa đặt xung quanh các sự kiện trong doanh trại Moncada sẽ bị bác bỏ, và sự thật kinh hoàng về những sự kiện này sẽ được tiết lộ, điều mà họ muốn che giấu bằng bất cứ giá nào. Sau đó, tôi quyết định rằng tôi sẽ tranh thủ việc bản thân tôi là một luật sư và sẽ tự bào chữa cho mình.

 

Quyết định này, được trung sĩ SIM nghe lén và thông báo cho các cơ quan chức năng liên quan, đã gây xôn xao dư luận. Như thể một con quỷ vui tính nào đó đang đùa rỡn, thông báo với họ rằng do lỗi của tôi, tất cả kế hoạch của họ sẽ sụp đổ. Và các bạn biết đấy, thưa quý tòa, đã có áp lực thế nào để tước bỏ quyền tự bào chữa của tôi - vốn có truyền thống lâu đời ở Cuba. Tòa án không thể đồng ý với những yêu cầu như vậy, vì điều này đã đồng nghĩa với việc tước bỏ mọi quyền bào chữa của bị cáo. Bị cáo, người đang thực hiện quyền bào chữa của mình, vì bất cứ lý do gì, sẽ không nói gì trong im lặng. Và tôi tin rằng trước hết cần phải giải thích lý do tại sao họ bắt tôi phải cô lập kinh khủng đến vậy, tại sao họ muốn tôi im lặng, tại sao, như bạn biết, kế hoạch cho việc ám hại tôi đã được ấp ủ, những sự thật rất quan trọng mà họ muốn giấu với mọi người, đó là bí mật của tất cả những điều kỳ lạ đang xảy ra với phiên tòa này. Đây là những gì tôi muốn tiết lộ thật rõ ràng.

 

Chính các vị  đã công khai coi phiên tòa này là quan trọng nhất trong lịch sử của nước cộng hòa. Và nếu các vị thực sự coi như vậy, thì không nên để uy tín của mình bị hoen ố vì tất cả những hành vi diễu cợt này. Phiên tòa đầu tiên diễn ra vào ngày 21/9. Hơn một trăm trên ghế bị cáo, dưới họng súng của súng máy và súng trường của hàng trăm binh sĩ lưỡi lê sáng lòe,  trơ trẽn lấp đầy hội trường nơi công lý phải được thực thi. Phần lớn các bị cáo không liên quan gì đến vụ án này. Họ đã bị giam giữ trước khi xét xử trong nhiều ngày, chịu đủ loại hành hạ và lăng mạ trong ngục tối của các cơ quan đàn áp. Những người bị buộc tội còn lại - họ thuộc nhóm thiểu số - đã can đảm, sẵn sàng tự hào khẳng định mình đã tham gia đấu tranh cho tự do và với sự sẵn sàng cống hiến chưa từng có để làm mọi thứ để gỡ bỏ xiềng xích tù tội khỏi nhóm người đã bị lôi kéo vô cớ vào quá trình này. Những người đã từng chiến đấu đối mặt với nhau trên chiến trường lại gặp lại nhau. Một lần nữa, chúng tôi bảo vệ chính nghĩa. Một cuộc đấu tranh khó khăn của sự thật chống lại sự hèn hạ sắp bắt đầu. Và chế độ hiện hữu chắc là không mong đợi thảm họa đạo đức đang chờ đợi nó!

 

Làm thế nào để giữ vững tất cả các cáo buộc không có thật? Làm sao có thể giấu được điều đã thực sự xảy ra, khi rất nhiều thanh niên sẵn sàng chấp nhận bất kỳ rủi ro nào - tù tội, tra tấn và cái chết nếu cần - để vạch trần những cáo buộc sai trái này trước tòa, để không ai biết đến?

 

Ở phiên đầu tiên, tôi được yêu cầu khai báo, và tôi bị thẩm vấn trong hai giờ, trả lời các câu hỏi từ công tố viên của các vị và hai mươi luật sư bào chữa. Với sự trợ giúp của những con số chính xác và những dữ kiện không thể chối cãi, tôi đã chứng minh số tiền đã bỏ ra để chuẩn bị cuộc nổi dậy và cho biết chúng tôi đã tích cóp nó như thế nào và chúng tôi đã kiếm được vũ khí gì. Tôi không có gì phải che giấu, bởi vì mọi thứ đã được thực hiện với cái giá phải trả là sự hy sinh chưa từng có trong lịch sử nước cộng hòa của chúng ta. Tôi cũng nói về những mục tiêu đã truyền cảm hứng cho chúng tôi trong cuộc đấu tranh, về thái độ luôn nhân đạo và cao thượng của chúng tôi đối với kẻ thù. Và nếu tôi cố gắng hoàn thành nhiệm vụ của mình bằng cách chứng minh rằng tất cả những người bị buộc tội hoàn toàn bất hợp lý liên quan đến vụ án này, không trực tiếp hay gián tiếp, không tham gia vào cuộc nổi dậy, thì tôi hoàn toàn có được sự đồng lòng và ủng hộ của những người đồng chí anh hùng của tôi. Khi đó tôi nói rằng họ sẽ không xấu hổ hay ăn năn điều gì nếu họ, với tư cách là những nhà cách mạng và những người yêu nước, phải đối mặt với hậu quả. Trước đây tôi không được phép gặp hoặc nói chuyện với họ trong tù, nhưng chúng tôi sẽ làm y như vậy. Vì khi mọi người được truyền cảm hứng bởi cùng một lý tưởng, thì không ai và không gì có thể ngăn cách họ: tường ngục cũng như mồ mả; chúng được truyền cảm hứng từ cùng một ký ức, cùng một tinh thần, cùng một ý tưởng, cùng ý thức và phẩm giá con người.

 

Ngay từ thời điểm đó, sự dối trá tàn ác - được chính phủ dựng lên trên cơ sở các sự kiện thực tế - bắt đầu tan rã như một ngôi nhà của những quân bài. Do đó, ông công tố viên nhận ra rằng việc giam giữ tất cả những người bị cáo buộc là kẻ chủ mưu của cuộc nổi dậy là vô lý đến mức nào, đã yêu cầu trả tự do cho họ ngay lập tức.

 

Sau khi đưa ra bằng chứng trong phiên đầu tiên, tôi xin phép tòa rời vành móng ngựa và đứng giữa các luật sư bào chữa. Tôi đã được phép làm điều đó. Tôi bắt tay vào một nhiệm vụ mà tôi coi là quan trọng nhất trong quá trình này: vạch trần đến cùng những lời vu khống hèn nhát, vô liêm sỉ, xảo trá và xảo quyệt đã được sử dụng để chống lại những người chiến sĩ của chúng tôi; chứng minh không thể chối cãi được tội ác khủng khiếp và ghê tởm nào đã gây ra đối với những người tù: trước mặt toàn dân tộc, trước toàn thế giới, nỗi bất hạnh khủng khiếp của dân tộc này, phải chịu sự áp bức dã man và mất nhân tính nhất trong lịch sử của mình.

 

Phiên tòa thứ hai diễn ra vào Thứ Ba, 22 tháng 9. Mặc dù vào thời điểm đó chỉ có mười người bị thẩm vấn, nhưng từ lời khai của họ, bức tranh về những vụ giết người được thực hiện trong khu vực Manzanillo trở nên rõ ràng, và điều này cũng đã được chứng minh và ghi lại, trách nhiệm trực tiếp thuộc về đội trưởng chỉ huy đồn quân sự ở đó. Và vẫn còn ba trăm người sẽ phải bị thẩm vấn. Điều gì sẽ xảy ra nếu tôi, với rất nhiều dữ kiện và bằng chứng được thu thập, tiến hành thẩm vấn quân đội chịu trách nhiệm về những sự kiện này trước tòa án? Liệu chính phủ có thể cho phép tôi làm điều này trước sự chứng kiến của đông đảo công chúng tham dự phiên tòa, trước sự chứng kiến của các phóng viên báo chí, luật sư từ toàn đảo và lãnh đạo các đảng đối lập, những người mà chính phủ đã dại dột đưa vào ghế bị cáo, để họ có thể nghe rõ mọi điều đã được thảo luận? Chính phủ thà cho nổ tung tòa án với tất cả các thẩm phán trong đó còn hơn để nó xảy ra!

 

Đó là lúc họ có ý tưởng manu militari không cho tôi cơ hội tham gia phiên tòa. Vào tối muộn thứ Sáu, ngày 25 tháng 9, tức là vào đêm trước của phiên tòa thứ ba, hai bác sĩ nhà tù xuất hiện trong phòng giam của tôi. Họ rõ ràng đã rất xấu hổ. “Chúng tôi đã đến để khám cho anh,” họ nói với tôi. “Ai lo lắng cho sức khỏe của tôi vậy?” - tôi hỏi. Trên thực tế, ngay khi tôi nhìn thấy họ, mục đích chuyến thăm của họ đã trở nên rõ ràng. Các bác sĩ hóa ra là những người cao thượng, họ ngay lập tức cho tôi biết sự thật. Hóa ra vào buổi tối cùng ngày, Đại tá Chaviano đã đến thăm nhà tù và nói với họ rằng với những bài phát biểu của tôi ở toqà "tôi gây ra thiệt hại to lớn cho chính phủ", rằng họ phải ký vào một văn bản nói rằng tôi ốm và không thể tham gia phiên toà. Các bác sĩ cũng nói rằng họ đã sẵn sàng từ bỏ việc làm của mình và thậm chí chịu ngược đãi, họ để tôi quyết định và đặt số phận của họ vào tay tôi. Thật khó cho tôi khi yêu cầu những người này hy sinh bản thân mình, nhưng đồng thời, tôi không thể nào đồng ý rằng những kế hoạch như vậy sẽ thành hiện thực. Tôi để họ quyết định theo lệnh của lương tâm và chỉ nói: “Các bạn phải biết bổn phận của mình là gì; còn tôi biết rõ  bổn phận của mình! ”.

 

Sau khi ra khỏi phòng giam, các bác sĩ đã ký vào văn bản. Tôi biết rằng họ làm điều đó với mục đích tốt, tin rằng đây là cách duy nhất để cứu mạng tôi đang gặp nguy hiểm lớn. Tôi không hứa sẽ giữ bí mật cuộc trò chuyện này; chỉ có sự thật là quan trọng đối với tôi, và nếu, bằng cách nói sự thật, tôi đã gây ra thiệt hại cho hai chuyên gia giỏi này, thì tôi vẫn đặt sự trung thực của họ lên ngoài mọi nghi ngờ, và điều này có giá trị hơn nhiều. Ngay tối hôm đó, tôi đã viết một lá thư cho tòa án, trong đó tôi vạch trần kế hoạch do nhà chức trách chuẩn bị và yêu cầu gọi hai bác sĩ pháp y đến để đảm bảo rằng tôi hoàn toàn khỏe mạnh. Trong bức thư này, tôi đã nói rằng nếu để cứu mạng tôi, tôi phải đồng ý với một thủ đoạn như vậy, thì tôi muốn chia tay nó một ngàn lần. Vì vậy, không nghi ngờ gì về sự sẵn sàng của tôi để chiến đấu ngay cả một mình chống lại sự hèn hạ này, tôi đã trích dẫn lời của Thầy trong lá thư của tôi: "Một hành động chính đáng, dù được giấu trong hang sâu, cũng mạnh hơn cả một đội quân." Bức thư này, như tòa đã biết, được tiến sĩ Melba Hernandez trình bày tại phiên tòa thứ ba vào ngày 26 tháng 9. Tôi đã đưa được bức thư cho cô ấy mặc dù tôi phải chịu sự bảo vệ chặt chẽ. Tất nhiên, liên quan đến bức thư này, các cuộc trấn áp ngay lập tức được thực hiện: Tiến sĩ Hernandez bị cô lập, và tôi, vì tôi đã bị cô lập, nên đã bị đưa vào góc hẻo lánh nhất của nhà tù. Kể từ lúc đó, tất cả các bị can đều được khám xét kỹ lưỡng trước khi ra tòa.

 

Các bác sĩ pháp y đến gặp tôi vào ngày 27 tháng 9 và xác nhận rằng tôi có sức khỏe tốt. Tuy nhiên, bất chấp các yêu cầu của tòa nhiều lần, tôi không được đưa tới bất kỳ phiên tòa nào. Về điều này, cần phải nói thêm rằng những ngày này những kẻ vô danh đã phát hàng trăm tờ rơi giả, trong đó có những lời kêu gọi đánh tháo tôi khỏi nhà tù - một chứng cứ ngoại phạm ngu ngốc để tiêu diệt tôi "trong khi cố gắng trốn thoát." Sau khi kế hoạch này thất bại do bị những người bạn cảnh giác vạch trần kịp thời và giấy chứng nhận y tế giả bị công khai, họ không còn cách nào khác để ngăn tôi tham dự phiên tòa, ngoài việc không tuân thủ lệnh tòa một cách công khai và trơ tráo.

 

Đây là một trường hợp chưa từng xảy ra, thưa quý vị thẩm phán: chế độ sợ sự có mặt của bị cáo tại phiên tòa; Chế độ khủng bố và đẫm máu đã bó tay trước sức mạnh đạo đức của một người không có khả năng tự vệ, không vũ trang và bị vu khống. Vì vậy, sau khi tôi bị tước hết mọi thứ, tôi cũng bị tước đi cơ hội tham gia phiên tòa, nơi tôi là bị cáo chính. Cần lưu ý rằng tất cả những điều này diễn ra trong bầu không khí tạm thời bãi bỏ các bảo đảm của hiến pháp và khi luật về trật tự công cộng và kiểm duyệt báo chí và đài phát thanh có hiệu lực đầy đủ. Chế độ này phải gây ra những tội ác khủng khiếp nào nếu nó sợ hãi tiếng nói của một bị cáo!

 

Tôi phải nhấn mạnh sự thô lỗ, hoàn toàn thiếu tôn trọng đối với quý vị, thưa quý tòa, từ phía các nhà chức trách quân sự trong phiên tòa này. Đã bao nhiêu lần tòa án này ra lệnh chấm dứt sự cô lập vô nhân đạo mà tôi phải chịu, bao nhiêu lần tòa yêu cầu tôn trọng các quyền cơ bản nhất của tôi, bao nhiêu lần yêu cầu tôi được phép có mặt tại các phiên xử - các điều này đều không được thực hiện. Mỗi lần như vậy họ đều từ chối làm theo mọi mệnh lệnh của các vị. Hơn nữa, trước sự hiện diện của chính tòa án trong phiên thứ nhất và thứ hai, một pháp quan bảo vệ được đặt bên cạnh tôi để ngăn tôi nói chuyện với bất kỳ ai, ngay cả trong giờ nghỉ giải lao, do đó làm rõ rằng không chỉ trong tù mà còn tại phiên tòa - trước sự hiện diện của quý tòa - họ không để ý đến các mệnh lệnh của các vị. Tôi muốn nêu câu hỏi này trong phiên tòa tiếp theo như một câu hỏi về sự tôn trọng cơ bản đối với tòa án, nhưng ... tôi không được phép có mặt tại đó nữa. Và nếu, sau khi thể hiện sự thiếu tôn trọng đó với các vị, chúng tôi bị đưa đến đây để các vị tống chúng tôi vào tù nhân danh "tính hợp pháp" mà họ, và chỉ họ, đã vi phạm kể từ ngày 10 tháng 3 - vai trò mà họ muốn áp đặt lên các vị còn đáng buồn hơn. ... Trong trường hợp này, không bao giờ xảy ra những gì mà câu châm ngôn Latinh nói: cedant arma togae. Tôi yêu cầu quý tòa lưu ý đến tình tiết này.

 

Nhưng tất cả những biện pháp này hóa ra hoàn toàn vô ích, vì những người đồng đội dũng cảm của tôi với tinh thần công dân vô cùng anh dũng đã làm tròn nhiệm vụ của mình.

 

"Đúng vậy, chúng tôi đã chiến đấu cho tự do của Cuba và chúng tôi không hối hận vì đã làm điều đó." Họ lần lượt nói như vậy khi trả lời các câu hỏi của công tố viên. Và ngay lập tức, với lòng dũng cảm đáng kinh ngạc, khi đối chất trước tòa, họ đã vạch trần những tội ác khủng khiếp đã bị gây ra đối với những người anh em đã ngã xuống của chúng tôi. Mặc dù tôi không có mặt tại phiên tòa, nhưng tôi vẫn có thể theo dõi quá trình từ phòng giam của mình và biết mọi chi tiết nhờ sự giúp đỡ của các tù nhân trong nhà tù Boniato. Bất chấp mọi lời đe dọa trừng phạt nghiêm khắc, họ đã nghĩ ra những cách khéo léo để chuyển cho tôi những mẩu báo và tất cả các loại thông tin khác. Bằng cách đó họ đã trả thù cho sự ngược đãi và hành hạ của giám đốc nhà tù Thaboada và trợ lý, trung úy Rosabal - người đã buộc họ phải làm việc từ tờ mờ sáng để xây dựng các biệt thự cho các cá nhân, bỏ đói họ, cướp đoạt tiền dành cho việc nuôi dưỡng các tù nhân.

 

Khi phiên tòa tiếp tục, các vai trò thay đổi: những người được cho là buộc tội trở thành bị cáo, và bị cáo trở thành người buộc tội. Bây giờ có một phiên tòa không dành cho những người cách mạng - một quý ông tên là Batista đã vĩnh viễn bị kết án ở đó ... Monstrum horrendum! .. Không quan trọng là những người trẻ tuổi dũng cảm và xứng đáng đã bị lên án, bởi vì ngày mai nhân dân sẽ lên án tên độc tài và những tên lính đánh thuê tàn ác của hắn. Họ bị đày đến hòn đảo Pinos, trong ngục tối mà hồn ma Castells vẫn lang thang và người ta nghe thấy tiếng rên rỉ của rất nhiều người đã chết. Ở đó, trong sự giam cầm khó khăn, họ phải trả giá cho tình yêu tự do của mình, bị cắt đứt khỏi xã hội, khỏi gia đình và bị trục xuất khỏi quê hương. Bạn không nghĩ rằng trong điều kiện như vậy, với tư cách là một luật sư, tôi rất khó hoàn thành nhiệm vụ của mình sao?

 

Kết quả của rất nhiều mưu đồ bẩn thỉu theo ý thích của những kẻ ra mệnh lệnh và sự yếu kém của những người phán xét; đây, tôi đang ở đây trong căn phòng nhỏ này của Bệnh viện Dân sự, nơi tôi được đưa đến để thẩm vấn một cách bí mật, để bóp nghẹt giọng nói của tôi, và không ai biết về những điều tôi sắp nói. Tại sao Cung điện Tư pháp uy nghiêm này, nơi gặp gỡ của các quý ông thẩm phán, lại cần nhiều tiện nghi hơn nữa? Sẽ là không thích hợp khi cảnh báo các vị về cách công lý đang được thực thi từ một bệnh viện được bao quanh bởi các lính canh với lưỡi lê trong tay, để công dân có thể nghĩ rằng công lý của chúng ta đang "bị ốm ... và bị bắt".

 

Tôi nhắc các vị rằng luật của bạn được thiết lập để tòa án phải "công khai và phổ biến"; tuy nhiên, việc dự tòa đối với người dân ở đây hoàn toàn bị cấm. Chỉ có hai luật sư và sáu nhà báo được phép vào, là  những tờ báo mà cơ quan kiểm duyệt không cho phép in một từ nào. Tôi thấy rằng tôi có khán giả duy nhất trong hội trường và ngoài hành lang, khoảng sáu người lính và nhân viên. Cảm ơn các vị vì sự quan tâm nghiêm túc và xứng đáng dành cho tôi! Ước gì cả quân đội đứng trước mặt tôi! Tôi biết rằng một ngày nào đó các vị sẽ có mong muốn cháy bỏng để có thể rửa sạch vết nhơ thanh máu xấu hổ khủng khiếp này, thứ để sót lại trên quân phục bởi lòng bất khuất của một nhóm nhỏ không có vũ khí. Vì vậy, hãy để chúng vẫn sống vì niềm vui của bản thân ... nếu người dân không vứt bỏ chúng sớm hơn nhiều!

 

Cuối cùng, tôi phải nói rằng trong phòng giam của tôi, tôi không có cơ hội sử dụng bất kỳ bộ luật hình sự nào. Tôi chỉ có một bộ luật nhỏ này, do luật sư, người bảo vệ dũng cảm của các đồng đội tôi, tiến sĩ Baudilio Castellanos trao cho tôi. Tôi cũng không được phép nhận sách của nhà thơ Jose Marti; rõ ràng cơ quan kiểm duyệt nhà tù coi chúng là quá “phá hoại”. Hoặc có thể tôi đã không được nhận chúng bởi vì tôi đã nói trước đó, rằng Marti là người truyền cảm hứng cho ý thức hệ vào ngày 26 tháng 7? Hơn nữa, tôi bị cấm mang theo đến phiên tòa bất kỳ cuốn sách nào về bất kỳ chủ đề nào khác. Nhưng nó không quan trọng! Trong trái tim tôi, tôi mang những suy nghĩ của Thầy, trong tâm tôi mang những ý tưởng cao cả của tất cả những người bảo vệ tự do của các dân tộc.

 

 

 

Tôi chỉ yêu cầu tòa án một điều, và tôi hy vọng rằng tòa án sẽ chấp nhận yêu cầu của tôi như một khoản bồi thường cho tất cả những hành vi quá mức và vi phạm pháp luật mà tôi đã phải chịu đựng mà không nhận được bất kỳ sự bảo vệ nào từ luật pháp: hãy tôn trọng quyền được bày tỏ mọi điều với sự tự do hoàn toàn. Nếu không có điều này, ngay cả hình thức bề ngoài của Công lý cũng không thể tạo dựng được, và đây sẽ là mắt xích cuối cùng - và cũng là khó khăn nhất - trong chuỗi của sự ô nhục và hèn nhát.

 

Tôi phải thừa nhận rằng, có một điều này khiến tôi thất vọng. Tôi đã nghĩ rằng ông công tố viên sẽ đưa ra một lời buộc tội khủng khiếp, sẵn sàng chứng minh đầy đủ ý định và lý do tại sao, nhân danh công lý và luật pháp - nhưng luật nào và công lý nào? - Tôi nên bị kết án 26 năm tù. Nhưng không. Kiểm sát viên giới hạn mình chỉ đọc Điều 148 Bộ luật Bảo trợ xã hội, theo đó, do các tình tiết tăng nặng, ông ta yêu cầu tôi 26 năm tù. Đối với tôi, dường như hai phút là quá ít thời gian để đòi hỏi và biện minh cho nhu cầu tước tự do của một người trong hơn một phần tư thế kỷ. Chắc ông kiểm sát viên không hài lòng với tòa này? Bởi vì, như tôi nhận thấy, sự kiệm lời của anh ta không thể so sánh với sự trang trọng, thậm chí là sự kiêu hãnh nhất định, mà theo đó các quý ông quan tòa tuyên bố rằng phiên tòa này có ý nghĩa rất lớn lao. Và tôi biết đến một trường hợp khi các công tố viên, khi xem xét một vụ án buôn bán ma túy đơn giản, lại nói nhiều gấp mười lần, yêu cầu một người dân bị kết án sáu tháng tù. Ông công tố viên không thốt ra một lời nào để chứng minh bản án mà ông ta yêu cầu. Tôi không muốn đổ oan ... Tôi hiểu rằng rất khó để công tố viên, người đã thề trung thành với hiến pháp của nước cộng hòa, yêu cầu ở đây thay mặt cho một chính phủ vi hiến, tự cho mình là không có bất kỳ tính pháp lý nào và hơn nữa là quyền đạo đức tồn tại, một chính phủ để mà một người Cuba trẻ tuổi như anh ta, một luật sư, có lẽ ... cũng không kém cạnh  gì anh ta, một người đàn ông, bị tống vào tù 26 năm. Nhưng ông công tố viên không phải là người không có tài năng, và tôi đã thấy những người kém năng lực hơn ông ấy, nhưng lại viết đầy hàng đống giấy tờ để chứng minh yêu cầu buộc tội bị cáo. Không thế nào tin rằng anh ta thiếu lý lẽ để biện minh cho một phán quyết như vậy - ít nhất là cho một bài phát biểu dài chừng mười lăm phút – thật đáng kinh tởm đối với bất kỳ người trung thực nào? Không nghi ngờ gì rằng có một âm mưu lớn ở đây.

 

Thưa các vị thẩm phán! Tại sao có người muốn cho tôi im lặng? Tại sao họ không trình bày bất kỳ lý lẽ nào để không đưa ra bất kỳ căn cứ nào mà tôi có thể đưa ra lý lẽ của mình? Hay là không có cơ sở pháp lý, đạo đức và chính trị để đặt vấn đề một cách nghiêm túc? Họ thực sự sợ sự thật đến vậy sao? Hay họ cũng muốn tôi nói ở đây chỉ hai phút và không động đến những vấn đề khiến một số người mất ngủ kể từ ngày 26 tháng 7? Đã giới hạn bản cáo trạng chỉ là một bài đọc đơn giản trong năm dòng từ bài báo Bộ luật An sinh xã hội ... có lẽ đã được cho là ... tôi sẽ kiềm chế bản thân đến cùng và chỉ xoay quanh những dòng này, giống như một nô lệ xung quanh một cái cối xay? Tôi sẽ không chấp nhận cái trò bịt miệng này, bởi vì tòa án này đang thảo luận về một thứ không chỉ là quyền tự do của một người: tranh chấp về những vấn đề cơ bản, cơ bản, quyền tự do của mọi người đang được xét xử, tranh chấp về chính nền tảng của sự tồn tại của chúng ta như một đất nước dân chủ và văn minh ... Sau khi kết thúc bài phát biểu của mình, tôi không muốn dằn vặt bản thân vì đã không bảo vệ ít nhất một nguyên tắc, không bày tỏ ít nhất một sự thật, không vạch trần tất cả tội ác.

 

Điều khoản nhỏ nổi tiếng được nêu bởi công tố viên không đáng được trả lời dù chỉ một phút. Hiện tại, tôi sẽ chỉ hạn chế trong một cuộc chiến pháp lý ngắn ngủi với công tố viên, bởi vì tôi muốn dọn dẹp chiến trường khỏi các tiểu tiết cho tới thời điểm trận chiến quyết định chống lại tất cả những điều dối trá, giả dối, đạo đức giả, những quy ước và sự hèn nhát vô biên đạo đức mà  cả màn hài kịch thô thiển đó dựa vào từ ngày 10 tháng 3 - và thậm chí sớm hơn ngày 10 tháng 3 - được gọi là công lý ở Cuba.

 

Nguyên tắc cơ bản của luật hình sự yêu cầu rằng hành động được kết tội phải giống hệt như loại tội phạm mà pháp luật trừng trị. Nếu không có điều luật áp dụng chính xác cho vấn đề đang tranh chấp thì không có tội phạm.

 

Điều khoản được đề cập có nội dung: “Bất kỳ ai cố gắng thực hiện một âm mưu khởi nghĩa vũ trang chống lại các cơ quan hiến định của nhà nước sẽ bị phạt tù từ 3 đến 10 năm. Nếu có cuộc nổi dậy thì bị phạt tù từ 5 năm đến 20 năm ”.

 

Ông công tố viên đang sống ở nước nào? Ai nói với ông ta rằng chúng tôi tổ chức một cuộc nổi dậy chống lại các cơ quan hiến định của nhà nước? Có hai điểm đáng chú ý. Thứ nhất, chế độ độc tài áp bức đất nước không phải là quyền lực hợp hiến, ngược lại, đó là quyền lực phản hiến pháp; nó được thành lập trái với hiến pháp, ngoài hiến pháp và vi phạm hiến pháp hợp pháp của nước cộng hòa. Hiến pháp hợp pháp là hiến pháp đến trực tiếp từ nhân dân có chủ quyền. Tôi sẽ chứng minh sự thật này xa hơn, hoàn toàn trái ngược với tất cả những điều dối trá được chất đống bởi những kẻ hèn nhát và phản bội, để biện minh cho những gì không có sự biện minh. Thứ hai, điều luật nói về nhà cầm quyền, tức là nói về nhà cầm quyền ở số nhiều, chứ không phải ở số ít, vì nó có nghĩa là một nước cộng hòa, nơi có nhánh lập pháp và nhánh tư pháp, bổ sung và cân bằng lẫn nhau. Chúng tôi đã dấy lên một cuộc nổi dậy chống lại một chính phủ duy nhất, một chính phủ bất hợp pháp chiếm đoạt và thống nhất các quyền lập pháp và hành pháp trong nước, phá hủy hệ thống được thiết kế để bảo vệ điều khoản của bộ luật mà chúng ta đang bàn tới. Về tính độc lập của cơ quan tư pháp sau ngày 10 tháng 3, tôi không muốn nói về nó, vì tôi không có thời gian để đùa ... Dù họ đã cố gắng điều chỉnh bộ luật cho trường hợp này như thế nào, thậm chí không một dấu phẩy nào của Điều 148 có thể được áp dụng cho các sự kiện 26 tháng 7. Hãy để điều luật này lại cho đến khi nó có thể được sử dụng trong mối quan hệ với những người thực sự đã dấy lên trong thời của họ một cuộc nổi dậy chống lại các cơ quan hiến định của nhà nước. Sau này, tôi sẽ quay lại mã để làm mới trong trí nhớ của Ngài Kiểm sát viên một số tình tiết mà, rất tiếc, đã bị ông ấy quên.

 

Tôi cảnh báo các vị rằng tôi chỉ mới bắt đầu nói. Nếu còn một chút nào của tình yêu quê hương đất nước, tình yêu nhân loại, công lý trong trái tim các vị, hãy chú ý  lắng nghe tôi. Tôi biết rằng người ta sẽ bắt tôi im lặng trong nhiều năm; Tôi biết rằng họ sẽ cố gắng che giấu sự thật bằng mọi cách có thể; Tôi biết rằng một âm mưu đẩy vào lãng quên sẽ được thực hiện chống lại tôi. Nhưng tiếng nói của tôi sẽ không vì thế mà im tiếng; nó càng có thêm sức mạnh trong lồng ngực tôi khi tôi càng cảm thấy cô đơn, và tôi muốn nó sẽ tràn đầy nhiệt huyết để những linh hồn hèn nhát khiếp sợ nó.

 

Tôi đã nghe nhà độc tài trên đài phát thanh vào thứ hai, ngày 27 tháng bảy, trong một túp lều trên núi, khi còn lại mười tám người chúng tôi với vũ khí trong tay. Ai chưa trải qua những giây phút như vậy sẽ không hiểu thế nào là cay đắng và phẫn nộ. Trong khi những hy vọng ấp ủ bấy lâu nay của chúng tôi về sự giải phóng dân tộc của chúng tôi đã bị tiêu tan, chúng tôi đã phải nghe lời khoe khoang của một kẻ chuyên quyền đã trở nên hèn hạ và kiêu ngạo hơn bao giờ hết. Dòng lời nói dối và vu khống, mà ông ta phun ra bằng kiểu nói thô lỗ, đáng ghét, ghê tởm vốn có của mình, chỉ có thể được so sánh với dòng máu khổng lồ tinh khiết và trẻ trung đã đổ ra từ đêm hôm trước với sự đồng ý của hắn ta, với sự đồng lòng và chấp thuận của băng nhóm sát nhân vô hồn nhất mà thậm chí rất khó để tưởng tượng ra. Nếu dù chỉ một phút để tin vào những gì hắn ta nói, cũng đủ để một người lương thiện cảm thấy hối hận và xấu hổ về một sai lầm như vậy cả đời. Trong những phút đó, tôi không có hy vọng đóng con dấu sự thật lên trán kẻ độc tài đáng thương để hắn mang nó đến cuối ngày và mọi lúc, vì xung quanh chúng tôi là một vòng vây của hơn một nghìn lính, được trang bị vũ khí tầm xa và uy lực hơn hẳn và thực hiện mệnh lệnh chỉ quay trở lại về chỉ với xác chết của chúng tôi. Bây giờ sự thật đang được phơi bày và khi tôi kết thúc bằng bài phát biểu này, việc hoàn thành sứ mệnh mà tôi đã cháp nhận và hoàn thành đến cùng, tôi có thể chết một cách bình tĩnh và hạnh phúc, vì vậy tôi sẽ không tiếc sức mình để bêu riếu làm xấu hổ lũ giết người điên cuồng.

 

Cần thiết phải nhận xét ngắn gọn về các sự kiện. Chính phủ cho biết cuộc tấn công nhịp nhàng và chính xác theo cách thức thể hiện sự tham gia của các chuyên gia quân sự trong lúc kế hoạch. Một tuyên bố phi lý hơn không thể tưởng tượng được! Kế hoạch được phát triển bởi một nhóm thanh niên, không ai trong số họ có kinh nghiệm quân sự. Và tôi có thể nêu tên của họ, ngoại trừ hai, không nằm trong số các tù nhân hoặc trong số những người bị giết: Abel Santamaria, Jose Luis Tasende, Renato Guitart Rossel, Pedro Miret, Jesus Montane và người hiện đang nói chuyện trước mặt các vị. Một nửa trong số họ đã chết; để tưởng nhớ họ, tôi tuyên bố rằng họ không phải là chuyên gia quân sự; tuy nhiên, họ là những người yêu nước đủ tốt để trong những điều kiện bình đẳng có thể hoàn toàn đánh bại tất cả các tướng lĩnh tham gia các sự kiện ngày 10 tháng 3, bất kể họ không phải là quân lính cũng không phải người yêu nước. Việc tổ chức, chuẩn bị, lấy người và vũ khí trong điều kiện của một chế độ khủng bố chi hàng triệu peso cho các hoạt động gián điệp, hối lộ và tố giác còn khó hơn nhiều. Nhưng những người đàn ông trẻ mà tôi đề cập, cùng với nhiều người khác, đã thực hiện những sứ mệnh này với sự nghiêm túc và lòng trung thành đáng kinh ngạc cho sự nghiệp chung. Và điều đáng mừng hơn cả là họ sẵn sàng hy sinh mọi thứ, kể cả tính mạng, vì lý tưởng.

 

Việc tập trung những người đến tỉnh này từ những ngôi làng xa xôi nhất của hòn đảo được thực hiện ở giai đoạn cuối với độ chính xác đặc biệt và tuyệt đối bí mật. Cuộc tấn công đúng là đã được phối hợp xuất sắc. Nó bắt đầu đồng thời lúc 5 giờ. 15 phút vào buổi sáng ở cả Bayamo và Santiago de Cuba. Và với độ chính xác đến từng phút từng giây đã định trước, các tòa nhà xung quanh doanh trại lần lượt bị đánh chiếm. Tuy nhiên, nhân danh sự thật hoàn toàn, mặc dù điều này sẽ làm phai mờ vinh quang của chúng tôi, nhưng lần đầu tiên tôi tiết lộ một sự thật khác, điều này hóa ra lại là tử huyệt của chúng tôi: một nửa lực lượng vũ trang chính và tốt nhất của chúng tôi, do một sai lầm đáng buồn, đã bị lạc trên đường tiếp cận thành phố và không tham gia cùng chúng tôi trong thời khắc quyết định của trận đánh. Abel Santamaria với một nhóm 21 người đã chiếm một bệnh viện dân sự. Anh ấy đã cùng với một bác sĩ và hai cô gái, những người đồng đội của chúng tôi chăm sóc những người bị thương. Raul Castro cùng với mười người bạn đồng hành chiếm giữ Tòa án. Tôi cùng với chín mươi lăm đồng đội khác xông vào doanh trại. Tôi tiếp cận với nhóm đầu tiên gồm bốn mươi người, trước mặt chúng tôi là một phân đội đi trước gồm tám người, những người đã chiếm đồn thứ ba. Chính tại đây, trận chiến bắt đầu khi xe của tôi đụng phải một đội tuần tra bảo vệ bên ngoài được trang bị súng máy. Nhóm dự bị, hầu như tất cả đều chỉ có súng trường - vũ khí hạng nhẹ đi tiên phong - đã di chuyển sai đường mà họ cần đi theo, và cuối cùng bị lạc ở một thành phố xa lạ. Tôi phải nói rằng tôi không nghi ngờ gì về lòng dũng cảm của những người này, những người đã mất phương hướng, phải chịu đựng cay đắng và tuyệt vọng. Kết quả trận chiến là, do quân phục của cả hai bên chiến đấu giống nhau, không dễ để khôi phục liên lạc với nhóm này. Nhiều người trong số họ bị bắt sau đó đã chết như những anh hùng thực sự.

 

Tất cả các chiến binh của chúng tôi đều nhận được những chỉ dẫn rất chính xác để thể hiện trước hết là tính nhân đạo trong cuộc chiến. Chưa bao giờ nhóm vũ trang nào lại hào hiệp với kẻ thù như vậy. Trong những giây phút đầu tiên của trận chiến, chúng tôi đã bắt vô số tù binh, khoảng hai mươi người. Và có một khoảnh khắc đầu tiên khi ba người của chúng tôi - từ những người đã chiếm được tiền đồn: Ramiro Valdes, Jose Suarez và Jesus Montane - tiến vào doanh trại và tạm thời bắt giữ khoảng năm mươi binh lính. Những tù nhân này xuất hiện trước tòa án và tất cả, không có ngoại lệ, thừa nhận rằng họ được đối xử hết sức tôn trọng, họ không nghe thấy một lời thô lỗ nào. Về vấn đề này, tôi phải tự đáy lòng cảm ơn ngài kiểm sát viên: tại phiên tòa, khi các đồng chí của tôi bị xét xử, trong bài phát biểu của mình, vị này đã nhìn nhận một cách đúng đắn tinh thần cao thượng nhất mà chúng tôi đã thể hiện trong cuộc chiến.

 

Kỷ luật của binh lính khá kém. Họ đã đánh bại chúng tôi thực chất chỉ bởi số lượng vượt trội: đối với mỗi chiến binh của chúng tôi có mười lăm đối thủ, ngoài ra, chúng được bảo vệ bởi các bức tường của pháo đài. Người của chúng tôi đã bắn tốt hơn nhiều, và chính đối thủ của chúng tôi cũng thừa nhận điều đó. Lòng dũng cảm đã được thể hiện bởi cả hai bên.

 

Đánh giá nguyên nhân thất bại về mặt chiến thuật của chúng tôi, ngoài sai lầm đáng buồn nói trên, tôi tin rằng việc chia cắt các phân đội, những người mà chúng tôi đã huấn luyện rất kỹ lưỡng, là một sai lầm của chúng tôi. Trong số những người giỏi nhất và chỉ huy dũng cảm nhất của chúng tôi, 27 người ở Bayamo, 21 người ở bệnh viện dân sự, 10 người ở Tòa án. Nếu chúng tôi bố trí lực lượng của mình theo cách khác, kết quả có thể đã khác. Vụ va chạm với đội tuần tra - một vụ tai nạn thuần túy, vì sớm muộn gì thì chỉ qua hai mươi giây nó cũng sẽ đến một nơi khác - cho phép doanh trại chuẩn bị. Nếu không phải vì điều này, chúng sẽ rơi vào tay chúng tôi mà không cần một phát súng nào, vì đồn canh đã nằm trong tay chúng tôi. Ngoài ra, ngoại trừ những khẩu súng trường cỡ 22 có lượng đạn dồi dào, chúng tôi còn rất ít vũ khí khác. Nếu chúng tôi có lựu đạn, doanh trại không thể chống cự trong mười lăm phút.

 

Tin chắc rằng mọi nỗ lực của chúng tôi để chiếm pháo đài đều vô ích, tôi bắt đầu rút người của chúng tôi theo nhóm tám và mười. Cuộc rút lui được bảo vệ bởi sáu tay súng bắn tỉa, dưới sự chỉ huy của Pedro Miret và Fidel Labrador, đã anh dũng chặn đường quân lính. Tổn thất của chúng tôi trong trận chiến là không đáng kể. 95 phần trăm những người ngã xuống của chúng tôi đã chết vì sự tàn ác và vô nhân đạo khi trận chiến đã kết thúc. Ở nhóm hoạt động trong một bệnh viện dân sự, chỉ có một người chết, và những người còn lại bị mắc kẹt, vì lối ra duy nhất từ tòa nhà đã bị quân đội chặn lại. Nhưng mọi người đã chiến đấu cho đến khi hết đạn. Abel Santamaria đã ở bên họ - những người cao quý nhất, được yêu mến nhất và không sợ hãi trong giới trẻ của chúng ta; cuộc chiến đấu oanh liệt của anh đã làm cho tên tuổi của anh trở nên bất tử trong lịch sử Cuba. Chúng ta sẽ xem số phận nào đã đến với họ và cách Batista muốn dạy cho tuổi trẻ của chúng ta một bài học về sự nổi loạn và chủ nghĩa anh hùng.

 

Biết đã thất bại trong một cuộc tấn công vào trung đoàn chúng tôi dự kiến sẽ tiếp tục cuộc chiến trên núi. Tôi đã tập hợp lại được ở Sibonea khoảng một phần ba lực lượng của chúng tôi. Nhưng nhiều người đã chán nản. Khoảng hai mươi người quyết định đầu hàng. Chúng ta sẽ xem những gì đã xảy ra với họ. Mười tám người khác, với vũ khí và khí tài mà họ còn lại theo tôi vào núi. Khu vực này hoàn toàn xa lạ với chúng tôi. Trong tuần đầu, chúng tôi đã ở phần cao nhất của sườn núi Gran Piedra. Các đội quân đóng bên dưới. Chúng tôi không thể đi xuống, họ không dám đi lên. Vì vậy, không phải vũ khí mà là cái đói và cái khát đã đánh tan cuộc kháng chiến của chúng tôi. Tôi đã chia mọi người thành nhiều nhóm nhỏ; một số người trong số họ đã xuyên được qua hàng rào của binh lính, những người khác được đưa đi ra dưới sự bảo bọc của Đức ông Perez Serantes. Khi chỉ còn lại hai người đồng đội - Jose Suarez và Oscar Alcalde - chúng tôi đã kiệt sức đến mức cùng cực, nên rạng sáng thứ Bảy, ngày 1 tháng 8, một biệt đội dưới quyền chỉ huy của Trung úy Sarria đã bất ngờ bắt sống chúng tôi lúc đang ngủ. Việc giết các tù nhân đã dừng lại sau phản ứng gay gắt từ phía công chúng, và viên sĩ quan này - một người lương thiện - đã ngăn chặn một số kẻ sát nhân bắn người trên cánh đồng khi tay đang bị trói.

 

Ở đây không cần phải bác bỏ điều vô nghĩa hiển nhiên, với sự trợ giúp của Ugalde Carrillo và những tên tay sai của hắn đã cố gắng bôi nhọ tên tôi để che đậy sự hèn nhát và tầm thường của họ, che giấu tội ác của họ. Nhưng sự thật đã quá rõ ràng.

 

Mục tiêu của tôi không phải là khiến các quan tòa  bận rộn với những đoạn mô tả hào hùng. Tất cả những gì tôi đã nói là cần thiết để hiểu rõ hơn về những gì tôi sẽ nói tiếp theo.

 

Tôi muốn hướng sự chú ý của bạn đến hai chi tiết quan trọng, trên cơ sở đó chúng ta có thể đánh giá rõ ràng thế giới quan của mình. Thứ nhất, chúng tôi sẽ dễ dàng hơn trong việc bắt trung đoàn, bắt giữ trung đoàn và đơn giản là bắt sống tất cả các sĩ quan cấp cao trong các căn hộ của họ, nhưng cơ hội này đã bị từ chối vì lý do nhân đạo: chúng tôi muốn tránh những cảnh bi thảm và những trận chiến trong nhà của các gia đình. Thứ hai, quyết định không đánh chiếm bất kỳ đài phát thanh nào cho đến khi chiếm được doanh trại này của chúng tôi. Thế giới quan hiếm có về độ dũng cảm và cao thượng của chúng tôi đã cứu công dân khỏi rất nhiều đổ máu. Tôi có thể chiếm lấy một đài phát thanh với một tá lính và kêu gọi dân chúng chiến đấu. Không có nghi ngờ gì về sự sẵn sàng của người dân. Tôi đã có buổi biểu diễn cuối cùng của Eduardo Chibas trên SMK, được ghi lại trên băng, những bài thơ yêu nước và những bài thánh ca của quân đội có thể đốt cháy ngay cả những th�� trơ trọi nhất, và ngay cả vào thời điểm như vậy khi tiếng ồn ào của một cuộc đấu tranh vang lên trên đường phố. Nhưng tôi không muốn lợi dụng điều này, bất chấp tình hình tuyệt vọng của chúng tôi.

 

Chính phủ đã cố gắng hết sức để chứng minh rằng người dân không ủng hộ phong trào của chúng tôi. Chưa bao giờ tôi nghe thấy một câu nói ngây thơ và đồng thời ác ý như vậy. Những tuyên bố như vậy cố gắng chứng minh rằng người dân hèn nhát, rằng họ đang phục tùng chế độ độc tài. Vì vậy, bạn có thể đồng ý với thực tế là người dân ủng hộ chế độ độc tài. Họ không biết những người dân dũng cảm của tỉnh Oriente sẽ buồn đến mức nào. Cư dân của Santiago de Cuba tin rằng trận chiến là giữa những người lính và chỉ biết về nó nhiều giờ sau đó. Ai ngờ được lòng quả cảm, lòng yêu nước và lòng dũng cảm vô bờ bến của người dân quê hương ngoan cường và yêu thương Santiago de Cuba? Nếu Moncada rơi vào tay chúng tôi, thì ngay cả những người phụ nữ ở Santiago de Cuba cũng sẽ cầm lấy vũ khí! Các y tá bệnh viện dân y đã nạp đạn cho súng trường của chiến binh chúng tôi! Họ cũng đã chiến đấu. Chúng tôi sẽ không bao giờ quên điều này.

 

Chúng tôi sẽ không chiến đấu với những người lính của trung đoàn - chúng tôi đặt ra nhiệm vụ là đánh bất ngờ họ, tước vũ khí của họ, nói chuyện với người dân, sau đó tập hợp quân đội và mời họ từ bỏ ngọn cờ chuyên chế căm thù và đứng dưới ngọn cờ tự do; mời họ bảo vệ lợi ích lớn của quốc gia, chứ không phải lợi ích vụn vặt của một nhóm nhỏ; quay vũ khí chống lại kẻ thù của nhân dân, chứ không phải để chống lại chính nhân dân, trong đó có con cái và cha mẹ của họ; chiến đấu như anh em, cùng với nhân dân, không chống lại họ, như kẻ thù mà họ muốn làm cho họ; cùng nhau bước đi vì mục tiêu đạt được lý tưởng đẹp đẽ và xứng đáng duy nhất mà bạn có thể cống hiến cuộc đời mình. Lí tưởng này là sự cao cả và hạnh phúc của quê hương. Đối với những người nghi ngờ rằng nhiều người lính sẽ tham gia với chúng tôi, tôi muốn hỏi: Điều gì mà người Cuba không phấn đấu để đạt được vinh quang? Tinh thần nào sẽ không bùng cháy khi bình minh của tự do ló dạng?

 

Các thủy thủ đã không chiến đấu chống lại chúng tôi, và chắc chắn rằng họ sẽ tham gia với chúng tôi sau đó một chút. Được biết, những người thuộc nhánh quân đội này hầu như không có thiện cảm với chế độ chuyên chế và rằng trong số những người đại diện của nó, tinh thần ý thức dân sự rất cao. Nhưng đối với phần còn lại của quân đội quốc gia, họ sẽ chiến đấu chống lại những người nổi loạn? Tôi nói là không. Người lính là người sống biết suy nghĩ, quan sát và cảm nhận. Anh ta cũng chịu ảnh hưởng của các quan điểm, niềm tin, sở thích và không thích tồn tại trong dân chúng. Nếu bạn hỏi ý kiến của anh ấy, anh ấy sẽ trả lời rằng anh ấy không thể nói ra. Nhưng điều này không có nghĩa là anh ta không có ý kiến. Anh ta sống với những vấn đề giống như những công dân khác của đất nước: kiếm kế sinh nhai, vấn đề nhà ở, nuôi dạy con cái, tương lai của họ, v.v. Mỗi thành viên trong gia đình anh ta là một điểm tiếp xúc không thay đổi giữa anh ta với nhân dân, với hiện tại và tương lai của xã hội mà anh ta đang sống. Thật là ngu ngốc khi nghĩ rằng một người lính nhận lương - khá khiêm tốn - từ nhà nước, thì anh ta đã giải quyết được mọi vấn đề bức xúc của mình, vốn do nhu cầu, bổn phận và tình cảm của anh ta như một thành viên của gia đình và tập thể xã hội.

 

Lời giải thích ngắn gọn này là cần thiết vì nó gợi lại một sự thật mà cho đến nay rất ít người suy ngẫm: người lính vô cùng tôn trọng tình cảm của đa số nhân dân. Dưới chế độ Machado,khi sự ác cảm của dân chúng ngày càng tăng đối với nó lòng trung thành với quân đội đã biến mất ngay trước mắt chúng ta, và đến mức một nhóm phụ nữ gần như nổi dậy trong doanh trại Columbia. Nhưng bằng chứng rõ ràng hơn về điều này là một thực tế gần đây: trong khi chế độ Grau San Martin được người dân yêu thích nhất, nhiều âm mưu bắt đầu nảy sinh trong quân đội, được khuyến khích bởi lũ cựu binh vô đạo đức và những thường dân đầy tham vọng, nhưng không có âm mưu nào trong số này được đông đảo quân nhân hưởng ứng.

 

Đến ngày 10 tháng 3, uy tín của chính phủ dân sự đã giảm xuống mức tối thiểu. Batista và bè nhóm của ông ta đã tận dụng tình huống này. Tại sao họ không làm điều đó sau ngày 1 tháng 6? Bởi vì nếu họ đợi đa số dân chúng bày tỏ cảm xúc của mình bằng cách bỏ phiếu, thì không một âm mưu nào tìm được sự ủng hộ trong quân đội.

 

Do đó, cũng có thể kết luận rằng quân đội chưa bao giờ phản đối một chế độ được đa số người dân ủng hộ. Đây là một sự thật lịch sử, và nếu Batista cố gắng bằng mọi giá để duy trì quyền lực chống lại ý chí của đa số tuyệt đối người dân Cuba, thì kết cục của ông ta sẽ bi thảm hơn kết thúc của Gerardo Machado.

 

Tôi có quyền bày tỏ quan điểm của mình về các lực lượng vũ trang vì tôi đã nói về họ và bảo vệ họ khi những người khác im lặng. Và tôi không làm điều này với mục đích kích động một âm mưu, hoặc vì bất kỳ lý do nào khác, bởi vì khi đó luật của hiến pháp vẫn còn hiệu lực. Tôi đã làm điều này vì tình cảm đơn giản của con người và nghĩa vụ công dân của tôi. Trong những ngày đó, tờ báo "Alerta" là một trong những tờ báo nổi tiếng nhất do vị thế của nó trong chính trị trong nước. Từ các trang của nó, tôi đã phát động một chiến dịch nổi tiếng chống lại hệ thống lao động cưỡng bức mà binh lính phải chịu trong các khu đất tư nhân thuộc sở hữu của quan chức cấp cao và quân đội. Tôi mang theo tài liệu, hình ảnh, cảnh quay và tất cả các loại bằng chứng. Với bằng chứng này, tôi ra tòa vào ngày 3/3/1952. Trong các bài báo về vấn đề này, tôi đã nhiều lần viết rằng việc tăng lương cho những người phục vụ trong lực lượng vũ trang là điều cần thiết. Tôi muốn biết liệu có ai khác đã lên tiếng phản đối sự bất công như vậy không. Tất nhiên, điều này không thể là Batista và bè lũ của ông ta, những kẻ đang sống rất tốt trong biệt thự được bảo vệ cẩn mật của chúng, trong khi tôi phải đối mặt với hàng ngàn mối nguy hiểm khác nhau, không có vệ sĩ hay vũ khí.

 

Và cũng như tôi đã bảo vệ họ sau đó, nên bây giờ, khi mọi người im lặng trở lại, tôi tuyên bố rằng họ đã bị lừa dối một cách đểu cáng,  và sự bẩn thỉu, gian dối và xấu hổ mà họ đã tự che đậy mình vào ngày 10 tháng 3, càng tăng thêm bẩn thỉu và xấu hổ hơn gấp ngàn lần vì những tội ác khủng khiếp và phi lý ở Santiago de Cuba. Kể từ lúc đó, quân phục của quân đội đã nhuốm máu một cách nhục nhã nhất, và nếu sau đó tôi tuyên bố với dân chúng và phơi bày trước tòa rằng những người lính, giống như nô lệ, đang còng hết cả lưng trong các tư dinh, hôm nay tôi đau buồn tuyên bố rằng chúng ta có những người lính từ đầu đến chân nhuốm máu của những thanh niên Cuba bị tra tấn và sát hại. Và tôi cũng tuyên bố rằng nếu quân đội phục vụ nền cộng hòa, bảo vệ quốc gia, tôn trọng nhân dân và bảo vệ công dân, thì sẽ công bằng khi trả lương cho một người lính ít nhất 100 peso một tháng, nhưng nếu nó được sử dụng để giết và bắn, để đàn áp nhân dân, để phản bội quốc gia và để bảo vệ lợi ích của một nhóm nhỏ, quân đội thậm chí không đáng để nước cộng hòa chi ít nhất một centavo cho anh ta, và doanh trại Columbia nên được biến thành trường học, nơi 10 nghìn trẻ mồ côi nên được ở đấy thay vì binh lính.

 

Nhưng trước hết, tôi muốn công bằng, vì vậy tôi không thể bắt tất cả quân đội chịu trách nhiệm về tội ác, về những hành động bẩn thỉu và sự xấu hổ này, đó là công việc của một số kẻ phản bội và độc ác. Nhưng mỗi quân nhân lương thiện, xứng đáng, yêu nghề, kính trọng quân phục, có nghĩa vụ phải đòi và đấu tranh để tẩy rửa những vết nhơ đáng xấu hổ này, để sự lừa dối này bị phơi bày, để kẻ phạm tội sẽ bị trừng trị nếu không muốn việc tham gia quân đội là sự xấu hổ vĩnh viễn chứ không phải niềm tự hào.

 

Rõ ràng là những người tổ chức cuộc đảo chính ngày 10 tháng 3 không có lựa chọn nào khác ngoài việc giải phóng binh lính khỏi công việc trong điền trang, nhưng họ ngay lập tức bị buộc phải làm người gác cổng, tài xế, người hầu và vệ sĩ cho đủ loại chính trị gia tham gia chế độ độc tài. Bất kỳ quan chức nào thuộc loại thứ tư hoặc thứ năm đều coi việc binh sĩ lái xe và canh gác cho hắn là quyền của mình, như thể mọi người thường xuyên sợ hãi trước một cú đánh đáng đời.

 

Nếu thực sự có một nỗ lực để cải thiện tình hình của những người lính, thì tại sao không phải tất cả tài sản và hàng triệu đô la bị tịch thu từ những người, như Henovevo Peres Dahmer, đã làm giàu, buộc những người lính làm việc như nô lệ, và chiếm đoạt tiền của các lực lượng vũ trang? Nhưng điều đó đã không xảy ra. Henovevo và những người khác sẽ có binh lính để canh giữ dinh thự của họ, bởi vì tất cả các tướng lĩnh tham gia cuộc đảo chính ngày 10 tháng 3 đều cố gắng làm điều tương tự và không thể cho phép tiền lệ như vậy phát sinh.

 

Đúng vậy, ngày 10 tháng 3 là một sự lừa dối đáng xấu hổ ... Batista, sau khi bị đánh bại trong chiến dịch bầu cử, cùng với dàn chính trị gia khét tiếng và đáng khinh của mình, đã quyết định lợi dụng sự bất mãn của quân đội, biến nó thành vũ khí của mình và leo lên nắm quyền sau lưng những người lính. Và tôi biết rằng có rất nhiều người không hài lòng với sự lừa dối này. Lúc đầu, lương của họ được nâng lên, sau đó là bắt đầu các loại khấu trừ, giảm trừ lương của họ. Nhiều cựu binh tầm thường trước đây đã bị sa thải khỏi các lực lượng vũ trang đã đảm nhận các chức vụ cao trong quân đội, ngăn cản sự tiếp cận của những người trẻ tuổi có năng lực và dũng cảm. Các sĩ quan được vinh danh không để ý, trong khi chủ nghĩa thiên vị tai tiếng nhất lại phổ biến trong mối quan hệ với người thân và cộng sự thân cận của các sỹ quan cao cấp nhất trong quân đội. Nhiều quân nhân trung thực trong những giờ này tự hỏi tại sao các lực lượng vũ trang lại tự gánh lấy trách nhiệm lịch sử nặng nề, phá hủy hiến pháp của chúng ta và dâng quyền lực cho một nhóm người vô đạo đức, tham nhũng, mất uy tín về mặt chính trị, những kẻ không thể tin cậy giao cho các chức vụ chính trị ngoại trừ với sự trợ giúp của lưỡi lê – lại còn của nhưng kẻ xa lạ...

 

Mặt khác, quân đội còn phải chịu sự chuyên chế nhiều hơn dân thường. Họ bị giám sát liên tục, và không ai trong số họ chắc chắn rằng họ sẽ tiếp tục tại vị. Mọi nghi ngờ vô căn cứ, mọi lời đàm tiếu, mọi âm mưu, một số lời vu khống - và điều này là đủ để họ bị chuyển đổi, đuổi ra hoặc bị sỉ nhục, bị tống vào tù. Chẳng phải Tabernilla đã ra lệnh đặc biệt cấm họ nói chuyện với bất kỳ đại diện nào của phe đối lập - hay nói cách khác, với 99% toàn dân! .. Bất tín làm sao! .. Ngay cả những người La Mã nguyên sơ cũng không bị áp đặt những quy tắc như vậy! Đã có rất nhiều tuyên bố huênh hoang về việc xây nhà cho binh lính, nhưng trên thực tế không có hơn 300 ngôi nhà được xây trên khắp cả đảo, mặc dù số tiền chi cho xe tăng, súng và vũ khí sẽ đủ để xây nhà cho mỗi tân binh. Batista không quan tâm đến việc chăm sóc quân đội, ông ta cần quân đội bảo vệ mình. Quyền lực của ông ta, dựa trên bạo lực và cái chết, đang tăng lên, nhưng điều này không có nghĩa là hạnh phúc của mọi người đang được cải thiện. Ba vòng canh gác, ở lại lâu dài trong doanh trại, lo lắng thường trực, sự thù địch của dân chúng, tương lai không chắc chắn - đây l�� những gì người lính nhận được, hay nói cách khác: “Hãy chết vì chế độ của chúng tôi, người lính, cho chế độ mồ hôi và máu, chúng tôi sẽ dành một bài phát biểu cho bạn, cho sau khi thăng quan tiến chức (khi không còn cần gì nữa), rồi ... chúng ta sẽ tiếp tục sống tốt và làm giàu; giết, cưỡng bức, đàn áp dân chúng, và khi dân chúng mệt mỏi với việc chịu đựng và chấm dứt tất cả những điều này, bạn sẽ phải trả giá cho tội ác của chúng tôi, nhưng chúng tôi sẽ ra nước ngoài sống ở đó như những ông hoàng. Và nếu một ngày nào đó chúng ta trở về, thì đừng cùng con cháu gõ cửa các cung điện của chúng ta, vì chúng ta sẽ trở thành triệu phú, và triệu phú không biết người nghèo. Người lính, hãy giết, đàn áp dân, chết cho chế độ ta, hãy đổ mồ hôi xương máu ...! "

 

Nếu nhắm mắt trước thực tế đáng buồn này, một số bộ phận lực lượng vũ trang quyết định chiến đấu chống lại những người dân muốn giải phóng họ khỏi chế độ chuyên chế, thì chiến thắng sẽ không thuộc về người dân. Ông công tố viên rất quan tâm đến triển vọng thành công của chúng tôi. Những khả năng này dựa trên các cân nhắc về kỹ thuật và quân sự, cũng như các động cơ xã hội. Những nỗ lực đã được thực hiện để tạo ra huyền thoại rằng sự hiện diện của vũ khí hiện đại khiến bất kỳ cuộc đấu tranh công khai và trực tiếp nào của người dân chống lại chế độ chuyên chế là không thể. Các cuộc diễu binh và trưng bày xa hoa của các thiết bị quân sự nhằm mục đích thổi phồng huyền thoại này và tạo ra một phức hợp về sự bất lực tuyệt đối trong nhân dân. Nhưng không một vũ khí nào, không một thế lực nào có thể đánh bại được những con người đã quyết đấu tranh cho quyền lợi của mình. Ví dụ lịch sử từ quá khứ và hiện tại là vô số. Bạn có nhớ những sự kiện gần đây ở Bolivia, nơi những người thợ mỏ, trang bị bom nổ tự chế, đã tiêu diệt các trung đoàn của quân đội chính quy.

 

Nhưng người Cuba, may mắn thay, không cần phải tìm kiếm những tấm gương ở nước khác, vì chúng ta có thể đưa ra một tấm gương hùng hồn và tuyệt vời từ lịch sử của quê hương mình. Trong cuộc chiến năm 1895, có khoảng nửa triệu binh lính Tây Ban Nha được vũ trang ở Cuba. Con số này nhiều hơn những gì có thể chống lại chế độ độc tài đối với người dân, số lượng sẽ tăng lên gấp 5 lần. Tất nhiên, vũ khí trang bị của quân đội Tây Ban Nha hiện đại và mạnh mẽ hơn nhiều so với những gì Mambises có. Thường thì người Tây Ban Nha có pháo dã chiến, và bộ binh của họ sử dụng súng trường có khóa nòng, tương tự như loại mà bộ binh hiện đại vẫn được trang bị. Người Cuba nói chung không có vũ khí nào ngoài dao rựa, vì những khẩu súng lục của họ hầu như luôn trống rỗng. Có một trang không thể nào quên trong lịch sử cuộc chiến giành độc lập của chúng ta, được viết bởi Tướng Miro Archenter, Tham mưu trưởng Antonio Maceo, mà tôi có thể viết lại và mang ra đây để khỏi nhớ lại trong ký ức.

 

“Các tân binh do Pedro Delgado chỉ huy, hầu hết chỉ mang dao rựa, đã tấn công những người Tây Ban Nha có vũ trang và bị đánh bại đến mức không ngoa khi nói rằng một nửa trong số năm mươi người đã bị giết. Họ tấn công người Tây Ban Nha bằng tay không - không súng lục, không dao rựa, không dao! Khi kiểm tra các bụi rậm của Rio Onda, người ta đã tìm thấy thêm 15 người Cuba thiệt mạng, nhưng vẫn chưa thể xác định được họ thuộc về đội nào. Không có dấu hiệu nào cho thấy họ đang mang vũ khí. Quần áo của họ còn nguyên vẹn, trên thắt lưng của họ không có gì ngoài những chiếc cốc thiếc. Cách họ hai bước là một con ngựa chết với đầy đủ trang bị. Phần cuối cùng của thảm kịch xảy ra ở đây dần dần trở nên rõ ràng: những người này, theo chỉ huy không biết sợ hãi của họ là Trung tá Pedro Delgado, đã cho thấy một tấm gương anh hùng: họ lao vào chống lại lưỡi lê bằng tay không; Tiếng leng keng của kim loại yếu ớt được nghe thấy trong trận chiến tay đôi đến từ cú đập của cốc nước vào các bộ phận kim loại của dây nịt ngựa. Maceo bị sốc. Anh ta dẫu quen với việc nhìn thấy cái chết trong tất cả các biểu hiện của nó, đã thốt lên bài điếu văn sau đây: “Tôi chưa bao giờ thấy điều này: những người tân binh không vũ trang đã tấn công người Tây Ban Nha, chỉ trang bị bằng những chiếc cốc thiếc! Thế mà tôi khi trước gọi họ là  những kẻ bàng quang! .. "

 

Đây là cách các dân tộc chiến đấu khi họ muốn giành tự do: họ ném đá vào máy bay và lật xe tăng bằng tay không! Nếu chúng tôi giành được chính quyền ở thành phố Santiago de Cuba, chúng tôi sẽ ngay lập tức kích động cư dân của tỉnh Oriente để chiến đấu. Bayamo bị tấn công để thiết lập các đồn tiền phương của chúng tôi tại sông Kauto. Chúng ta không được quên rằng tỉnh này, hiện có một triệu rưỡi dân cư, chắc chắn là tỉnh mạnh mẽ nhất và tràn đầy lòng yêu nước nhất ở Cuba. Chính nơi đây đã diễn ra cuộc đấu tranh giành độc lập kéo dài suốt 30 năm, những người dân nơi đây đã đổ máu và hy sinh, hơn hết họ đã thể hiện chủ nghĩa anh hùng ... Ở Orient bạn vẫn có thể cảm nhận được không khí của bản anh hùng ca chói lọi ấy, và vào lúc bình minh, khi những chú gà trống cất tiếng hót vang trời, triệu tập một người lính, và mặt trời mọc trên những ngọn núi dốc, có vẻ như ngày của Yar hoặc Bayre lại tới.

 

Tôi đã nói rằng điều kiện tiên quyết thứ hai mà chúng tôi đặt niềm tin vào thành công là lý do xã hội. Tại sao chúng tôi lại tin tưởng vào sự ủng hộ của người dân? Khi chúng tôi nói "nhân dân", chúng tôi không nói về tầng lớp khá giả và bảo thủ của dân tộc, những người thích bất kỳ chế độ áp bức nào, bất kỳ chế độ độc tài, bất kỳ chế độ chuyên quyền nào và sẵn sàng cúi đầu trước chủ nhân của họ cho đến khi họ sứt đầu mẻ trán. Ý của chúng tôi là về con người, khi chúng tôi nói về đấu tranh, đa sỗ bị áp bức, bị hứa hẹn, lừa dối và phản bội, nhưng đều mong muốn có một quê hương tốt đẹp hơn, công bằng hơn và xứng đáng hơn. Chúng tôi muốn nói đến những người đã phấn đấu cho công lý trong nhiều thế kỷ, bởi vì thế hệ này sang thế hệ khác đã phải chịu đựng bất công và hành hạ. Chúng tôi muốn nói đến những người muốn có những bước chuyển mình khôn ngoan và lớn lao trong mọi lĩnh vực và sẵn sàng cho từng giọt máu cuối cùng cho việc này, khi họ tin vào điều gì đó hoặc ai đó, đặc biệt nếu họ đủ tự tin vào bản thân. Nhưng để mọi người chân thành và hết lòng tin tưởng vào một ý tưởng nào đó, cần phải làm điều mà không ai làm: nói với mọi người một cách rõ ràng và không sợ hãi mọi điều. Các nhà sư phạm và các chính trị gia chuyên nghiệp muốn tạo ra một điều kỳ diệu bằng cách duy trì mối quan hệ tốt đẹp trong mọi việc và với mọi người, trong khi không thể tránh khỏi việc lừa dối mọi người và mọi thứ. Mặt khác, những người cách mạng phải mạnh dạn tuyên bố ý tưởng, xác định nguyên tắc và thể hiện ý định của mình để không ai bị lừa dối trong số họ - bạn cũng như thù.

 

Khi nói đến đấu tranh, chúng tôi gọi nhân dân là 600000 người Cuba đang thất nghiệp và muốn kiếm sống lương thiện, và không bị buộc phải di cư khỏi đất nước để tìm kiếm kế sinh nhai; 500.000 công nhân nông nghiệp sống trong những túp lều khốn khổ và chỉ làm việc bốn tháng một năm, và thời gian còn lại chết đói, chia sẻ nghèo khó với con cái, không có một mảnh đất trồng trọt, những người mà sự tồn tại của họ ta nên cảm thương nếu không có quá nhiều trái tim bằng đá; 400 nghìn công nhân công nghiệp và lao động phổ thông bị cướp hết tiền lương hưu, các quyền lợi mà họ giành được sẽ bị tước đoạt, họ sống trong những căn nhà tồi tàn, và thu nhập từ tay của chủ sở hữu trực tiếp rơi vào tay người sử dụng, những người dự kiến sẽ bị giáng chức và sa thải trong tương lai, cuộc sống của họ là công việc liên tục, và phần còn lại chỉ là một nấm mồ; chúng ta cũng đang nói về 100 ngàn tiểu nông sống chết, canh tác mảnh đất không thuộc về mình, nhìn mà xót xa, giống như Môi-se đến miền đất hứa, nhưng họ chết mà không nhận được, nghĩa vụ phải trả cho những mảnh đất của họ, như thể. nông nô phong kiến, một phần thu hoạch của họ; họ không thể nâng niu mảnh đất này, cải tạo, trang trí, trồng cây tuyết tùng hoặc cây cam trên đó, bởi vì bản thân họ không biết khi nào người alguazil với người bảo vệ làng sẽ đến và xua đuổi họ khỏi mảnh đất này. Chúng ta cũng đang nói về 30.000 giáo viên và giảng viên đã hy sinh quên mình, những người rất cần thiết để cải thiện vận mệnh của thế hệ tương lai, nhưng lại bị ngược đãi quá mức, quá ít được trả cho công việc của họ; chúng ta cũng đang nói về 20 nghìn thương gia nhỏ, gánh nặng nợ nần, bị hủy hoại bởi cuộc khủng hoảng và cuối cùng bị truy đuổi bởi nhiều tên cướp, quan chức và hối lộ; khoảng 10 nghìn chuyên gia trẻ - bác sĩ, kỹ sư, luật sư, bác sĩ thú y, giáo viên, nha sĩ, dược sĩ, nhà báo, nghệ sĩ, nhà điêu khắc, v.v. - những người rời trường lớp với bằng cấp, với mong muốn chiến đấu, đầy hy vọng và cuối cùng đâm vào ngõ cụt, đụng phải những cánh cửa đóng kín ở khắp mọi nơi, thờ ơ với những yêu cầu và đòi hỏi của họ. Đây là những người - những người trải qua mọi bất hạnh và do đó sẵn sàng chiến đấu với tất cả lòng dũng cảm của họ! Đối với dân tộc này, những người có những con đường đáng buồn được trải bằng những lời hứa hão huyền và dối trá, chúng tôi sẽ không nói với dân tộc này rằng: "Chúng tôi sẽ cho các bạn tất cả." Chúng tôi sẽ nói với nó rằng: "Hãy cống hiến hết sức mình cho cuộc đấu tranh để tự do và hạnh phúc trở thành tài sản của người!"

 

Trong các tài liệu của cuộc điều tra sơ bộ trong vụ án này, 5 điều luật mang tính cách mạng sẽ được công bố ngay sau khi chiếm được pháo đài Moncada và được công bố rộng rãi qua đài phát thanh. Có thể Đại tá Chaviano cố tình phá hủy những tài liệu này, nhưng dù có tiêu hủy chúng đi chăng nữa thì tôi vẫn giữ chúng trong bộ nhớ của mình.

 

Đạo luật cách mạng đầu tiên sẽ khôi phục chủ quyền của nhân dân và tuyên bố Hiến pháp năm 1940 là đạo luật tối cao thực sự của nhà nước, trừ khi nhân dân quyết định thay đổi hoặc thay thế bằng một bản khác. Để đưa ra một hiến pháp và một hình phạt mẫu mực cho tất cả những kẻ phản bội nó, do thiếu các cơ quan do nhân dân bầu ra để thực hiện những nhiệm vụ này, phong trào cách mạng, với tư cách là hiện thân tạm thời của chủ quyền nhân dân - nguồn quyền lực hợp pháp duy nhất, phải đảm nhận tất cả các quyền lực vốn có trong chủ quyền này, vì ngoại trừ quyền thay đổi hiến pháp: ban hành luật, thực thi chúng và các quyền của cơ quan tư pháp.

 

Điều này không thể rõ ràng hơn và không có sự bài xích và lang băm vô cớ: chính phủ, được nhân dân tuyên bố là những người chiến thắng trong cuộc đấu tranh, phải nhận được tất cả các quyền lực cần thiết để thực hiện hiệu quả ý chí và công lý thực sự. Kể từ thời điểm đó cơ quan tư pháp, sau ngày 10 tháng 3 chống lại hiến pháp và nằm ngoài phạm vi của hiến pháp, sẽ được sắp xếp như một cơ quan thương mại. Nó sẽ trải qua một cuộc thanh lọc ngay lập tức và toàn bộ trước khi được trả lại quyền hạn mà luật tối cao của nước cộng hòa trao cho. Nếu không có các biện pháp sơ bộ này, việc trở lại tính hợp pháp và chuyển giao quyền bảo vệ của nó vào tay những kẻ lạm dụng không trung thực sẽ trở thành gian lận, lừa dối, và một sự phản bội khác.

 

Đạo luật cách mạng thứ hai sẽ chuyển đất đai thành tài sản không thể chuyển nhượng, không thể chuyển nhượng cho tất cả những người thuê, người thuê phụ và người chia sẻ sở hữu những mảnh đất có từ 5 cabaleri đất trở xuống. Giá trị của mảnh đất này sẽ được nhà nước hoàn trả cho các chủ sở hữu cũ trên cơ sở tiền thuê mà họ sẽ nhận được trên những mảnh đất này trong vòng mười năm.

 

Đạo luật cách mạng thứ ba sẽ trao cho công nhân và nhân viên quyền hưởng 30 phần trăm lợi nhuận từ tất cả các xí nghiệp công nghiệp, thương mại và khai thác mỏ lớn, kể cả các nhà máy đường. Trong phạm vi của luật này đã loại trừ các doanh nghiệp thuần nông thuộc các luật khác có tính chất nông nghiệp sẽ được thông qua.

 

Đạo luật cách mạng thứ tư cho phép tất cả những người chủ đất có quyền nhận 55 phần trăm lợi nhuận từ việc trồng mía và hạn ngạch tối thiểu là 40.000 cây arrob cho tất cả các chủ đất nhỏ sống ở một địa điểm nhất định trong ba năm trở lên.

 

Đạo luật cách mạng thứ năm quy định việc tịch thu tất cả tài sản từ những kẻ tham ô. Những người đã trục lợi từ tất cả các chính phủ trước đây, và từ các thành viên trong gia đình và những người thừa kế của họ, việc tịch thu tài sản nhận được, có hoặc không có di chúc, không trung thực. Việc tịch thu này phải được thực hiện với quyền hạn rộng rãi, cho phép họ tiếp cận tất cả các nguồn cần thiết cho cuộc điều tra. Các tòa án này lẽ ra có quyền can thiệp vào công việc của các công ty cổ phần đã đăng ký hoặc hoạt động trong nước nếu số tiền bị đánh cắp có thể được cất giấu trong đó. Họ cũng có quyền yêu cầu chính phủ nước ngoài dẫn độ những người này và áp đặt lệnh cấm vận đối với tài sản của họ. Một nửa số tài sản bị tịch thu được chuyển vào quỹ hưu trí của người lao động, và nửa còn lại được sử dụng cho các bệnh viện, nhà tạm trú và nhà dưỡng lão.

 

Ngoài ra sẽ tuyên bố rằng Cuba sẽ theo đuổi ở châu Mỹ một chính sách đoàn kết chặt chẽ với tất cả các quốc gia dân chủ của lục địa và những người di cư chính trị, bị khủng bố bởi những kẻ bạo ngược đàn áp các dân tộc anh em, sẽ thấy ở quê hương của Marti không bị ngược đãi, đói khát và phản bội như hiện tại, mà là sự hào phóng về nơi nương tựa, tình anh em và bánh mì. Cuba được cho là một pháo đài của tự do, không phải là một mắt xích đáng xấu hổ trong chuỗi chế độ chuyên quyền.

 

Những luật này lẽ ra phải được ban hành ngay lập tức. Tiếp theo chúng - sau khi kết thúc cuộc đấu tranh và nghiên cứu kỹ lưỡng sơ bộ về nội dung và phạm vi của chúng – sẽ là các luật và biện pháp quan trọng khác, chẳng hạn như cải cách nông nghiệp, cải cách chung về giáo dục, quốc hữu hóa quỹ tín thác, trả lại cho người dân số thặng dư mà các quỹ tín thác này đã chiếm đoạt do thuế quan tăng cao, thanh toán cho kho bạc tất cả các khoản tiền được giấu cho Bộ Tài chính.

 

Tất cả các luật này và các luật khác nưuã sẽ dựa trên việc thực hiện nghiêm túc hai điều chính trong hiến pháp của chúng tôi. Một trong số đó yêu cầu phá hủy latifundia, và sau đó theo luật thiết lập số lượng đất tối đa mà mỗi người hoặc tổ chức có thể sở hữu cho mỗi trang trại, đồng thời đưa ra các biện pháp cần thiết để trả lại đất cho người Cuba. Cách thứ hai - theo cách phân loại nhất đòi hỏi nhà nước phải sử dụng tất cả các phương tiện theo ý mình để cung cấp công việc cho tất cả những người không có nó, để đảm bảo cho mọi công nhân, tham gia lao động thể chất hoặc tinh thần, một sự tồn tại đàng hoàng. Do đó, không có luật nào trong số này có thể được coi là vi hiến. Chính phủ đầu tiên do nhân dân bầu ra sẽ có nghĩa vụ tôn trọng những luật này, và không chỉ vì đó là nghĩa vụ đạo đức đối với quốc gia, mà còn vì nếu các dân tộc đạt được lợi ích xã hội mà họ đã phấn đấu trong nhiều thế hệ, thì không ai có thể tước đoạt của những cuộc chinh phục này.

 

Đất đai, công nghiệp hóa, nhà ở, thất nghiệp, giáo dục và y tế là sáu điểm cụ thể mà những nỗ lực bền bỉ của chúng tôi sẽ hướng tới, cùng với việc đạt được các quyền tự do xã hội và dân chủ chính trị.

 

Việc trình bày chương trình này có vẻ quá phiến diện và lý thuyết, nếu người ta không tính đến thảm kịch khủng khiếp mà cả đất nước đang trải qua liên quan đến tất cả sáu vấn đề này, cộng với tất cả đây là sự đàn áp chính trị nhục nhã nhất.

 

85% các hộ nông dân nhỏ ở Cuba phải trả tiền thuê nhà khi liên tục bị đe dọa trục xuất khỏi đất của họ. Hơn một nửa diện tích đất canh tác màu mỡ nhất đã nằm trong tay người nước ngoài. Tại tỉnh Oriente, lớn nhất, United Fruit Company và các vùng đất Tây Ấn Độ trải dài từ phía bắc đến bờ biển phía nam. 200 nghìn gia đình nông dân thậm chí không có một mảnh đất để trồng ít nhất là rau cho những đứa con đói khổ của họ, trong khi 300 nghìn ruộng đất màu mỡ nằm trong tay các nhà độc quyền quyền lực không được canh tác. Nếu Cuba là một quốc gia chủ yếu làm nông nghiệp, nếu dân số chủ yếu là nông dân, nếu thành phố phụ thuộc vào làng, nếu làng giành được độc lập, nếu sự vĩ đại và thịnh vượng của dân tộc chúng ta phụ thuộc vào một người nông dân khỏe mạnh, yêu thương và biết cách canh tác đất đai, và nhà nước hỗ trợ và chỉ đạo thì làm sao có thể duy trì tình trạng như thế này?

 

Ngoài một số công ty thực phẩm, chế biến gỗ và dệt may, Cuba tiếp tục là nhà cung cấp nguyên liệu thô. Đường xuất khẩu kẹo nhập khẩu; da giày xuất khẩu nhập khẩu; xuất khẩu quặng sắt để nhập khẩu máy cày ... Mọi người đều đồng ý rằng cần phải công nghiệp hoá đất nước một cách cấp bách, cần có nhà máy luyện kim làm giấy, nhà máy hoá chất, cần phải cải tiến đàn giống, cây trồng, thiết bị và sản xuất các sản phẩm lương thực của mình sao cho để chống lại sự cạnh tranh tàn khốc từ các doanh nghiệp châu Âu sản xuất pho mát, sữa đặc, rượu mùi, bơ, cũng như từ các doanh nghiệp Mỹ sản xuất đồ hộp. Mọi người đều đồng ý rằng chúng ta cần những con tàu buôn, rằng du lịch có thể là một nguồn tài sản khổng lồ cho chúng ta. Nhưng giới chủ của tư bản yêu cầu công nhân phải chịu đựng mọi áp bức, chính phủ không hoạt động, và công nghiệp hóa bị trì hoãn cho đến tết Công gô.

 

Vấn đề nhà ở cũng vậy hoặc thậm chí còn nghiêm trọng hơn. Có 200.000 lán và túp lều ở Cuba. 400 nghìn gia đình trong làng và trong thành phố sống trong các trại lính, nhà ổ chuột, thiếu thốn các điều kiện vệ sinh cơ bản. 2,2 triệu cư dân thành phố trả cho một căn hộ từ 1/5 đến 1/3 thu nhập của họ. 2,8 triệu người sống trong các ngôi làng và vùng ngoại ô thành thị không có ánh sáng điện. Ở khu vực này, điều tương tự cũng đang xảy ra: nếu nhà nước định giảm tiền thuê nhà, thì chủ nhà đe dọa dừng mọi việc xây dựng. Nếu nhà nước không thực hiện biện pháp này, thì họ sẽ xây dựng miễn là họ nhận được tiền thuê nhà tăng lên. Sau đó, họ sẽ không đặt một viên gạch nào, mặc dù tất cả những người khác thậm chí không có một mái nhà trên đầu của họ. Điều tương tự cũng được thực hiện bởi công ty độc quyền, do năng lượng điện của đất nước nắm trong tay: nó chỉ dẫn đường dây tải điện đến điểm mà nó được cung cấp với lợi nhuận thỏa đáng. Hơn nữa, công ty ấy hoàn toàn không quan tâm đến thực tế rằng mọi người sẽ sống trong bóng tối cho đến cuối ngày của họ. Nhà nước không hoạt động, trong khi người dân tiếp tục sống trong những căn lều và không có ánh sáng.

 

Hệ thống giáo dục của chúng ta bổ sung hoàn hảo cho bức tranh trên. Có cần các trường nông nghiệp ở nông thôn không nếu nông dân không phải là chủ sở hữu đất đai? Có cần các trường kỹ thuật và công nghiệp ở một thành phố không có ngành công nghiệp không? Mọi thứ đều tuân theo cùng một logic phi lý: không có cái này cũng không có cái kia. Ở bất kỳ quốc gia châu Âu nhỏ nào, có hơn hai trăm trường kỹ thuật và thủ công. Cuba chỉ có sáu trường như vậy, nhưng ngay cả khi tốt nghiệp, sinh viên cũng không biết tìm công việc cho mình ở đâu. Các trường công lập trong làng đều là học sinh chân đất, thậm chí chưa đến một nửa số trẻ em trong độ tuổi đi học. Trong nhiều trường hợp, giáo viên phải tự mua các học cụ cần thiết cho việc học bằng chính tiền lương của mình. Liệu trong điều kiện như vậy có làm rạng danh quê hương được không?

 

Chỉ có cái chết mới cứu được cái nghèo như vậy; và trong trường hợp này, nhà nước thực sự giúp đỡ. Chín mươi phần trăm trẻ em trong làng bị ký sinh trùng lây từ mặt đất, qua móng chân trần của chúng. Xã hội đang bị sốc bởi những báo cáo về vụ bắt cóc hoặc giết hại một đứa trẻ. Nhưng họ vẫn thờ ơ về mặt tội phạm trước thực tế hàng năm xảy ra vụ thảm sát hàng ngàn trẻ em, vì thiếu kinh phí, đang chết dần chết mòn trong đau đớn khủng khiếp. Trong đôi mắt ngây thơ vốn đã phủ một lớp sương mù sắp chết, một ánh mắt vẫn như cũ dán chặt vào vô cực, cầu xin sự tha thứ cho chủ nghĩa ích kỷ của con người, cầu xin lời nguyền của Chúa đừng giáng xuống con người. Nếu người chủ gia đình chỉ đi làm bốn tháng một năm thì làm sao mua quần áo, thuốc men cho con được? Chúng sẽ còi cọc và đến tuổi ba mươi chúng sẽ không còn một chiếc răng khỏe mạnh nào trong miệng nữa. Họ sẽ nghe mười triệu bài phát biểu, nhưng cuối cùng họ sẽ chết vì nghèo đói và thất vọng. Việc tiếp cận các bệnh viện nhà nước luôn quá đông đúc chỉ có thể được thực hiện theo đề nghị của một ông chủ chính trị nào đó, người sẽ yêu cầu người đàn ông bầu cử bất hạnh lá phiếu của anh ta và lá phiếu của tất cả các thành viên trong gia đình anh ta, để Cuba sẽ mãi mãi ở trong tình trạng cũ hoặc thậm chí còn tồi tệ hơn.

 

Với tất cả những điều này, thật chẳng khó để tìm ra lời giải thích cho thực tế là từ tháng 5 đến tháng 12, một triệu người ở Cuba thất nghiệp và đất nước 5,5 triệu người của chúng ta hiện có nhiều người thất nghiệp hơn cả Pháp và Ý, mỗi quốc gia có dân số hơn 40 triệu người. ...

 

Khi các vị kết án một người nào đó bị buộc tội ăn cắp, có biết  là anh ta đã nghỉ việc bao lâu, anh ta có bao nhiêu con, anh ta có bao nhiêu ngày trong tuần và anh ta không ăn bao nhiêu ngày? Các vị hoàn toàn không quan tâm đến điều kiện xã hội mà anh ta đang sống; cá vị tống anh ta vào tù mà không cần thêm bất kỳ lời khuyên nào. Nhưng những người giàu không bị tống vào đó, những người đốt cháy các cửa hàng và quầy hàng để có được các hợp đồng bảo hiểm, mặc dù đôi khi có người bị giết, vì họ có đủ tiền để trả cho luật sư và hối lộ các thẩm phán. Các vị đưa một người đàn ông bất hạnh vào tù, kẻ ăn trộm để không chết đói, nhưng không phải một trong số hàng trăm tên trộm đã lấy trộm hàng triệu USD của bang từng ở một đêm sau song sắt. Các vị dùng bữa với họ vào cuối năm tại một cơ sở quý tộc nào đó, và họ nhận được sự tôn trọng của các vị. Ở Cuba, khi một quan chức trở thành triệu phú chỉ sau một đêm và bước vào hội của những người giàu có, anh ta có thể được chào đón bằng những lời của một trong những nhân vật của Balzac, Tayfer, người đã nâng cốc chúc mừng một thanh niên vừa được thừa hưởng của cải không kể xiết: “Các quý ông, hãy uống vì quyền lực của vàng! " Ông Valenten, một triệu phú sáu lần, vừa lên ngôi. Ông ấy là vua, ông ấy có thể làm mọi thứ, ông ấy đứng trên mọi thứ, như trường hợp của tất cả những người giàu có. Do đó, bình đẳng trước pháp luật, được ghi chú thiêng liêng ở hiến pháp, sẽ chỉ là một chuyện cổ tích đối với ông ta; ông ta sẽ không tuân theo luật pháp, nhưng luật pháp sẽ tuân theo ông ta. Không có tòa án hay hình phạt nào dành cho các triệu phú. "

 

Tương lai của quốc gia và việc giải quyết các vấn đề mà nó phải đối mặt không thể tiếp tục phụ thuộc vào lợi ích ích kỷ của hàng chục nhà tài chính, vào những tính toán máu lạnh về lợi nhuận mà mười hoặc mười hai ông trùm tài chính tạo ra trong các văn phòng máy lạnh của họ. Đất nước không còn có thể quỳ gối cầu xin một phép lạ trước một vài con bê, những người, giống như người trong Cựu ước, đã bị tiêu diệt bởi cơn thịnh nộ của Nhà tiên tri, không thể thực hiện bất kỳ phép lạ nào. Các vấn đề của nền cộng hòa sẽ chỉ được giải quyết khi chúng ta cống hiến hết mình để đấu tranh giải quyết chúng với cùng nghị lực, sự trung thực và lòng yêu nước mà những người giải phóng của chúng ta đã tạo ra nền cộng hòa, chứ không phải với những chính khách như Carlos Saladriguez, người mà công việc của hắn chỉ là cố gắng để mọi thứ như cũ, như thể là, lẩm bẩm vô nghĩa về "quyền tự do tuyệt đối của doanh nghiệp", về "đảm bảo cho vốn đầu tư" và về "quy luật cung và cầu", như thể mọi vấn đề đều có thể được giải quyết bằng câu chuyện phiếm này. Trong cung điện ở Avenida thứ Năm, những bộ trưởng này có thể nói chuyện phiếm vui vẻ cho đến khi bụi sẽ vương vãi từ xương cốt của những người hiện đang yêu cầu các giải pháp khẩn cấp. Trong thế giới hiện đại, không có vấn đề xã hội nào có thể tự giải quyết được.

 

Chính phủ cách mạng, với sự ủng hộ của nhân dân và sự tin tưởng của toàn dân tộc, sau khi thanh lọc các thể chế của bọn hối lộ và quan chức tham nhũng, sẽ ngay lập tức bắt đầu công nghiệp hóa đất nước, sử dụng toàn bộ số vốn không hoạt động này, hiện lên tới hơn một tỷ rưỡi, với sự giúp đỡ của Ngân hàng Quốc gia và Ngân hàng Phát triển Nông nghiệp và ngành công nghiệp. Nó sẽ giao việc nghiên cứu, chỉ đạo, lập kế hoạch và thực hiện nhiệm vụ nghiêm trọng cho các kỹ thuật viên và những người có năng lực khác, những người hoàn toàn xa lạ với âm mưu chính trị.

 

Chính phủ cách mạng, sau khi đã biến 100.000 nông dân nhỏ trở thành chủ của thửa đất mà hiện nay họ đang trả tiền thuê, sẽ giải quyết triệt để vấn đề ruộng đất. Thứ nhất, nó sẽ thiết lập, theo yêu cầu của hiến pháp, một số lượng đất tối đa cho mỗi loại hình nông nghiệp và thu hồi tất cả thặng dư, có nghĩa là trả lại đất bị chiếm dụng bất hợp pháp cho nhà nước; nó sẽ hoạt động để tiêu thoát các vùng đất ngập nước và các vùng đất ven biển, tạo ra các vườn ươm khổng lồ và chỉ định các khu vực để trồng rừng. Thứ hai, nó sẽ phân phối ruộng đất cho nông dân, chủ yếu là nông dân hộ đông người, sẽ tạo điều kiện thành lập các hợp tác xã nông nghiệp để cùng sử dụng máy móc đắt tiền, tủ lạnh nhằm tạo ra một cơ chế quản lý chuyên ngành duy nhất về chăn nuôi, đồng thời cung cấp cho nông dân tiền, máy móc, bảo vệ và những thứ cần thiết hiểu biết.

 

Một chính phủ cách mạng sẽ giải quyết vấn đề nhà ở bằng cách giảm mạnh 50% tiền thuê nhà, miễn thuế cho những ngôi nhà do chính họ chiếm giữ; bằng cách tăng gấp ba lần thuế đánh vào chủ nhà cho thuê; phá hủy những khu ổ chuột địa ngục trần gian; đã xây dựng những ngôi nhà hiện đại nhiều tầng ở vị trí của họ; tài trợ cho việc xây dựng nhà ở trên toàn đảo với quy mô chưa từng có. Chúng tôi cho rằng nếu ở làng quê mỗi gia đình nên sở hữu mảnh đất riêng thì ở thành phố mỗi gia đình nên ở nhà riêng hoặc căn hộ của mình. Có đủ đá xây dựng và lượng lao động dư thừa để xây dựng một ngôi nhà tử tế cho mọi gia đình Cuba. Nhưng nếu chúng ta tiếp tục chờ đợi những ân huệ từ chú bê vàng, một nghìn năm nữa sẽ trôi qua và vấn đề vẫn chưa được giải quyết. Ngoài ra, trong thời đại của chúng ta, cơ hội để cung cấp điện đến những góc xa xôi nhất của hòn đảo là lớn hơn bao giờ hết, bởi vì hiện nay năng lượng hạt nhân đã được sử dụng ở khu vực này, điều này sẽ làm giảm đáng kể chi phí sản xuất điện.

 

Với những cải cách và nỗ lực này, vấn đề thất nghiệp sẽ tự động biến mất, và việc phòng chống và kiểm soát dịch bệnh sẽ trở nên dễ dàng hơn nhiều.

 

Cuối cùng, chính quyền cách mạng sẽ bắt đầu thực hiện một cuộc cải cách chung đối với nền giáo dục của chúng ta, điều chỉnh nó để hoàn thành tất cả các nhiệm vụ được liệt kê ở trên, nhằm chuẩn bị thích hợp cho những thế hệ sẽ sống trong một quê hương hạnh phúc hơn. Đừng quên lời Thánh Tông đồ: "Một sai lầm khủng khiếp đang được thực hiện ở Châu Mỹ Latinh: những dân tộc chỉ sống dựa vào sản phẩm của nông thôn nuôi con cái của họ cho cuộc sống thành thị, không chuẩn bị cho họ cuộc sống nông dân." "Những người hạnh phúc nhất sẽ là những người mang lại cho con cái của họ những điều tốt đẹp nhất - họ sẽ có thể làm phong phú thêm suy nghĩ và thể hiện hướng cảm xúc của mình." "Một dân tộc giác ngộ sẽ luôn mạnh mẽ và tự do."

 

Nhưng linh hồn của mọi sự khai sáng chính là người thầy giáo, và những nhà giáo dục ở Cuba đang được trả những đồng lương ít ỏi. Tuy thế không có người nào yêu nghề hơn thầy giáo Cuba. Ai trong chúng ta không học những chữ cái đầu tiên trong một ngôi trường dân gian nho nhỏ? Không thể tiếp tục trả những đồng xu đáng thương cho những người đàn ông, người phụ nữ đang hoàn thành nhiệm vụ thiêng liêng nhất của hôm nay và mai sau - nhiệm vụ dạy học. Không một giáo viên nào được nhận ít hơn 200 peso, và một giảng viên trung học dưới 350 peso nếu chúng ta muốn họ cống hiến hết mình cho sứ mệnh cao cả của họ và không phải sống dưới ách của đủ thứ thiếu thốn nhỏ nhặt. Ngoài ra, cần trao quyền sử dụng miễn phí phương tiện đi lại cho giáo viên làm công tác dân vận. Và tất cả mọi người - ít nhất 5 năm một lần - nên được phát cho 6 tháng lương và được cử đi học các khóa học đặc biệt trong và ngoài nước, để họ có thể tiếp thu những kiến thức sư phạm mới nhất và không ngừng cải tiến chương trình và hệ thống giảng dạy của mình. Lấy đâu ra số tiền cần thiết cho việc này? Khi ngân quỹ không bị đánh cắp, khi không có quan chức tham nhũng bị các công ty lớn mua chuộc để gây thiệt hại cho ngân khố, khi họ thực sự bắt đầu sử dụng nguồn lực khổng lồ của quốc gia, thì việc mua xe tăng, máy bay ném bom và súng ống cho một quốc gia không có biên giới sẽ dừng lại và vũ khí chỉ được sử dụng để chống lại người dân khi sẽ có mong muốn dạy mọi người thay vì giết họ - khi đó sẽ có rất nhiều tiền.

 

Cuba có thể cung cấp mọi thứ cần thiết cho một dân số đông gấp 3 lần hiện tại. Vì vậy, không có lý do gì cho sự tồn tại của nghèo đói trong các cư dân hiện tại của nó. Chợ phải đầy thực phẩm. Các kho của các ngôi nhà phải chật kín. Tất cả những bàn tay làm việc đều có thể tạo ra thứ gì đó. Không, điều này là không thể tưởng tượng được - không thể tưởng tượng được rằng có những người chịu đói đi ngủ, trong khi ít nhất một mảnh đất vẫn chưa được cày xới. Không thể tưởng tượng được rằng có những đứa trẻ chết mà không được chăm sóc y tế. Thật không thể tưởng tượng được rằng 30% nông dân của chúng tôi không biết cách ký tên, và 99% trong số họ không biết lịch sử của Cuba. Thật không thể tưởng tượng được rằng hầu hết các gia đình trong làng của chúng tôi sống trong điều kiện tồi tệ hơn những người da đỏ mà Columbus đã gặp ở đây, khám phá ra vùng đất đẹp nhất từng xuất hiện trước mắt con người.

 

Đối với những người gọi tôi là một kẻ mơ mộng về điều này, tôi sẽ trả lời bằng những lời của Marti: “Một người thực không tìm kiếm một nơi tốt hơn để sống, anh ta đang tìm kiếm nơi có nghĩa vụ của mình; và đây là người thực dụng duy nhất có ước mơ của ngày hôm nay sẽ trở thành quy luật của ngày mai, vì một người đã nhìn vào tận sâu thẳm của vũ trụ và nhìn thấy các dân tộc sôi sục đang bùng cháy và chảy máu trong xưởng hàng thế kỷ - anh ta biết rằng tương lai - và không thể có ngoại lệ - thuộc về phía những người biết nghĩa vụ của mình. "

 

Chỉ có thể hiểu được chủ nghĩa anh hùng của những người đã ngã xuống ở Santiago de Cuba khi biết rằng họ được truyền cảm hứng từ những lý tưởng cao cả đó. Trang bị ít ỏi đã cản trở sự thành công của chúng tôi. Khối quân đội cho biết rằng Prio đã đưa cho chúng tôi một triệu peso. Họ muốn bóp méo sự thật khó khăn nhất đối với họ: rằng phong trào của chúng tôi không có mối liên hệ nào với quá khứ, rằng chúng tôi là thế hệ Cuba mới với những ý tưởng riêng của chúng tôi, một thế hệ đã vươn lên chống lại chế độ chuyên chế; rằng họ là những thanh niên chưa đầy bảy tuổi khi Batista bắt đầu phạm tội đầu tiên vào năm 1934. Còn gì ngu ngốc hơn là vu khống rằng chúng tôi đã nhận được một triệu peso từ Prio. Nếu với dưới 20 nghìn peso, chúng tôi trang bị cho 165 người và tấn công một trung đoàn và phi đội, thì với một triệu peso chúng tôi có thể trang bị cho 8 nghìn người, tấn công 50 trung đoàn, 50 phi đội, và Ugalde Carrillo sẽ không biết về điều này cho đến khi Chủ nhật, ngày 26 tháng 7 đến 5:00 15 phút vào buổi sáng. Vậy nên, hãy biết rằng đối với tất cả những người tham gia trận chiến, vẫn còn hai mươi thanh niên được huấn luyện hoàn hảo không thể tham gia cuộc nổi dậy chỉ vì họ không có vũ khí. Những người đàn ông trẻ tuổi này đã tham gia một cuộc biểu tình của sinh viên trên đường phố Havana để kỷ niệm một trăm năm của Marti. Những người tham gia cuộc biểu tình này đã lấp đầy sáu dãy phố của thành phố. Nếu có thêm hai trăm người nữa tham gia vào trận chiến này, hoặc nếu chúng tôi có ít nhất 20 quả lựu đạn cầm tay, chúng tôi có thể đã tránh cho tòa án đáng kính này khỏi bao nhiêu rắc rối.

 



Các chính trị gia chi hàng triệu peso trong các chiến dịch của họ để mua chuộc lương tâm của người dân. Và một nhóm người Cuba, những người muốn cứu lấy danh dự của quê hương, đã phải bỏ mạng trong khi tay không vì thiếu kinh phí. Đây là bằng chứng cho thấy cho đến nay đất nước được cai trị không phải bởi những người cao quý, vị tha, mà bởi một số ít chính trị gia thấp kém, cặn bã thấp hèn trong đời sống xã hội của chúng ta.

 

Với niềm tự hào hơn bao giờ hết, tôi tuyên bố rằng, tuân theo các nguyên tắc của chúng tôi, chúng tôi chưa gõ cửa bất kỳ chính trị gia nào yêu cầu quyên góp ít nhất một centavo. Chúng tôi đã gây quỹ chỉ nhờ vào những tiết kiệm vô song. Ví dụ, chàng trai trẻ Elpidio Sosa đã bán bài đăng của mình và một lần đến với tôi với 300 peso, như anh ta nói, "vì công cuộc của chúng ta." Fernando Chenard bán thiết bị từ studio chụp ảnh của mình, nơi anh kiếm sống. Pedro Marrero đã đưa tiền lương của mình cho việc chuẩn bị cuộc nổi dậy trong nhiều tháng, và anh ta cũng phải nhận được lệnh nghiêm ngặt không được bán đồ đạc của mình. Oscar Alcalde đã bán phòng thí nghiệm dược phẩm của mình. Jesus Montana đã đưa số tiền mà anh ấy đã tiết kiệm trong hơn 5 năm. Nhiều người khác đã làm điều này, từ bỏ những gì ít ỏi mà họ đã có.

 

Bạn cần có niềm tin lớn vào quê hương để làm được điều này. Nhưng những ký ức về lòng vị tha của họ dẫn tôi đến chương đau buồn nhất của sự bào chữa này: cái giá mà chế độ chuyên chế đã khiến những người đàn ông trẻ tuổi này phải trả vì muốn giải phóng Cuba khỏi áp bức và bất công.

 

Những người thân yêu, bạn đã ngã xuống

Nhân danh Tổ quốc của bạn!

Đầu tôi rũ xuống

Tôi sẽ rắc tro cốt ...

Cánh tay chìa ra chạm vào trái tim

Và tiếng rên rỉ sẽ vang lên trong tai bạn

Xin cho tôi khóc

Sẽ làm cho bạo chúa sợ hãi!

Và hãy để bóng của các bạn đi cùng tôi,

Tinh thần của các bạn luôn cháy trong tôi!

Tiếng nức nở dày vò lồng ngực tôi,

Nhưng không còn giọt nước mắt nào nữa – cuộc sống đã làm cạn kiệt chúng

Tất cả cái cuộc sống đã trôi qua trong xiềng xích của nô lệ.

 

Nhân với mười tội ác của ngày 27 tháng 11 năm 1871, và bạn có thể hình dung mức độ nghiêm trọng của những tội ác khủng khiếp và ghê tởm xảy ra vào ngày 26, 27, 28 và 29 tháng 7 năm 1953 tại tỉnh Oriente. Những sự kiện này vẫn còn tươi nguyên trong ký ức của chúng tôi, nhưng khi năm tháng trôi qua, bầu trời quê hương tan mây, khi sự phấn khích lắng xuống và nỗi sợ hãi không làm vẩn đục tâm trí con người, thì mọi người sẽ thấy trong tất cả sự trần trụi khủng khiếp của nó là quy mô của vụ thảm sát. Và các thế hệ tương lai sẽ kinh hoàng trước hành động tàn bạo chưa từng có trong lịch sử của chúng ta. Nhưng tôi không muốn sự tức giận làm tôi mù quáng. Tôi cần tất cả sự minh mẫn của tâm trí và sự bình tĩnh của một trái tim tan vỡ để trình bày sự thật như chúng đã xảy ra, với tất cả sự đơn giản và không cường điệu bi kịch, bởi vì là một người Cuba, tôi xấu hổ rằng những kẻ vô hồn đã làm ô nhục quê hương của chúng tôi với những tội ác nghiêm trọng của họ trước toàn thế giới.

 

Batista bạo chúa chưa bao giờ là một người có lương tâm để do dự trước khi nói lời nói dối tuyệt vời nhất với người dân. Khi muốn biện minh cho cuộc đảo chính nguy hiểm vào ngày 10 tháng 3, ông đã nghĩ ra một câu chuyện hoang đường về một cuộc đảo chính quân sự nào đó, được cho là sẽ xảy ra vào tháng 4 và ông muốn "ngăn chặn, để nền cộng hòa không bị đổ máu." Chuyện phi lý này dĩ nhiên không ai tin. Khi hắn ta muốn nhấn chìm nền cộng hòa trong máu, và bằng khủng bố, bạo lực và tội ác để đàn áp những thanh niên nổi loạn chính đáng không muốn làm nô lệ của mình, hắn ta đã phát minh ra một lời nói dối còn tuyệt vời hơn. Hắn ta hạ thấp mọi người biết bao nếu cố gắng lừa dối họ một cách đáng thương! Cùng ngày tôi bị bắt, tôi đã công khai nhận trách nhiệm về cuộc nổi dậy vũ trang vào ngày 26 tháng 7. Và nếu ngay chỉ một trong những bịa đặt mà nhà độc tài nghĩ ra cả mớ chống lại các chiến binh của chúng tôi trong bài phát biểu của ông ta vào ngày 27 tháng 7 là sự thực, thì nó cũng đủ để tước đi sức mạnh đạo đức của tôi trong phiên tòa này. Nhưng tại sao hắn ta lại sợ hãi việc công khai vụ án của tôi trước tòa? Tại sao họ lại dùng đến một cuộc kiểm tra y tế giả? Tại sao tất cả các luật tố tụng đều bị vi phạm và tất cả các lệnh của tòa đều bị vi phạm một cách tai tiếng nhất? Tại sao những điều chưa từng có trước đây trong bất kỳ phiên tòa mở nào lại được cam kết, chỉ để ngăn cản sự hiện diện của tôi tại phiên tòa bằng mọi giá? Về phần mình, tôi đã cố gắng hết sức để có mặt tại phiên tòa, yêu cầu tòa xử tôi theo đúng quy định của pháp luật, vạch trần những thủ đoạn nhằm ngăn chặn việc này. Tôi muốn gặp trực tiếp "những người tố cáo" của mình. Người ta không muốn chuyện này. Câu hỏi đặt ra là ai sợ sự thật và ai không sợ?

 

Những suy đoán mà nhà độc tài đưa ra khi phát biểu tại trường bắn ở trại Columbia, sẽ thật nực cười nếu chúng không thấm đẫm máu. Hắn cho biết những kẻ tấn công là một nhóm lính đánh thuê, nhiều người trong số họ là người nước ngoài. Hắn ta nói rằng phần chính của kế hoạch của chúng tôi là ám sát hắn ta - ở khắp mọi nơi, chỉ có hắn ta - như thể những người tấn công pháo đài Moncada không thể tiêu diệt  hắn ta và hai mươi người như hắn nếu họ dung tới các phương pháp khác. Nhà độc tài nói rằng cuộc tấn công được chuẩn bị bởi cựu Tổng thống Prio, bằng tiền của ông ta. Nhưng tuyệt đối chẳng có sự tồn tại của bất kỳ mối liên hệ nào giữa phong trào của chúng tôi và chế độ quá khứ đã được chứng minh một cách thuyết phục. Hắn ta nói rằng chúng tôi được trang bị súng máy và lựu đạn cầm tay, và các chuyên gia quân sự xác nhận ở đây rằng chúng tôi chỉ có một khẩu súng máy chứ không có một quả lựu đạn nào. Hắn ta tuyên bố rằng chúng tôi đã cắt cổ những người lính trên chốt bảo vệ, và các tài liệu mô tả về những người thiệt mạng và các cuộc kiểm tra y tế liên quan đến từng người lính bị chết hoặc bị thương cho thấy không ai trong số họ có vết thương do vũ khí cận chiến. Nhưng, quan trọng nhất, hắn ta nói rằng chúng tôi bị cáo buộc cắt cổ tất cả những người bị bệnh trong bệnh viện quân đội. Và các bác sĩ của chính bệnh viện này - vâng, các bác sĩ quân đội! - đã tuyên bố tại phiên tòa rằng tòa nhà bệnh viện không bao giờ nằm trong tay chúng tôi, không có bệnh nhân nào bị thương hoặc thiệt mạng và chỉ có một nạn nhân duy nhất bởi thực tế là một trong những y tá vô tình thò ra cửa sổ.

 

Khi nguyên thủ quốc gia hay người đang muốn làm nguyên thủ nói chuyện với đất nước, không vì câu cửa miệng mà người đó luôn có ý đồ nhất định, muốn gây ra hiệu quả nhất định, theo đuổi mục tiêu nhất định. Và nếu chúng tôi đã bị đánh bại về mặt quân sự, nếu chúng tôi không còn là mối nguy hiểm thực sự đối với chế độ độc tài, thì tại sao chúng tôi lại bị vu khống như vậy? Rõ ràng là bài phát biểu của hắn ta theo đuổi những mục tiêu đẫm máu. Rõ ràng là hắn ta đang cố gắng bào chữa cho những tội ác đã gây ra vào đêm đó và tiếp tục được thực hiện sau đó. Hãy để những con số cho ta biết: Vào ngày 27 tháng 7, trong bài phát biểu của mình tại khu huấn luyện quân sự, Batista nói rằng những kẻ tấn công đã giết chết ba mươi hai người. Đến cuối tuần đã thành ra có hơn 80 người như thế. Những người thanh niên này chết trong những trận đánh nào, ở đâu, trong hoàn cảnh nào? Trước màn trình diễn của Batista, hơn 25 tù nhân đã bị giết. Sau bài phát biểu của hắn, thêm năm mươi người nữa bị giết.

 

Thật vinh dự cho những kỹ thuật viên và chuyên gia quân đội khiêm tốn này, những người đã xuất hiện tại phiên tòa, đã không làm sai lệch sự thật và trình bày lời khai của họ theo đúng sự thật! Những người quân nhân này đem lại danh dự cho quân phục của họ, họ là những người chân chính! Cả một quân nhân thực sự và một người chân chính đều không có khả năng tự nhuộm mình bằng dối trá hay tội ác. Tôi biết rằng họ đang vô cùng phẫn nộ trước những vụ giết người man rợ, tôi biết rằng với sự xấu hổ và ghê tởm, họ ngửi th���y mùi máu thấm qua từng viên đá của doanh trại Moncada.

 

Tôi kêu gọi nhà độc tài hãy lặp lại ngay bây giờ, nếu có thể, lời vu khống bẩn thỉu của ông ta, trái với lời khai của những quân nhân đáng kính này. Tôi kêu gọi ông ấy cố gắng biện minh cho bài phát biểu ngày 27 tháng 7 của mình trước người dân Cuba; để ông ta không im lặng, hãy để ông ta nói! Hãy để ông ta nói ai là kẻ sát nhân, những kẻ man rợ vô nhân đạo và tàn nhẫn này là ai. Hãy để ông ta nói nếu Huân chương Thập tự giá, mà ông ta gắn trên ngực của các anh hùng của cuộc thảm sát, không phải là phần thưởng cho những tội ác ghê tởm mà họ đã gây ra. Bây giờ hãy để ông ta nhận trách nhiệm trước lịch sử và sau đó không cố gắng đổ lỗi cho binh lính, tuyên bố rằng họ đang hành động mà không có lệnh của ông ta. Hãy để ông ta giải thích cho quốc gia bảy mươi vụ giết người. Rất nhiều máu đã được đổ ra! Quốc gia cần một lời giải thích, quốc gia cần một câu trả lời, quốc gia đòi hỏi điều đó.

 

Được biết, vào năm 1933, khi trận chiến tại khách sạn National kết thúc, một số sĩ quan đã bị giết sau khi họ đầu hàng, điều này là nguyên cớ cho một cuộc phản đối sôi nổi từ tạp chí Bohemia. Người ta cũng biết rằng sau khi Pháo đài Atares đầu hàng, súng máy của những kẻ bao vây đã quét sạch một số tù nhân và một trong những người lính, khi hỏi Blas Hernandez anh ta là ai, đã giết anh ta bằng một phát súng vào mặt. Như một phần thưởng cho hành động hèn nhát này, hắn ta được thăng cấp làm sĩ quan. Được biết, việc giết tù nhân luôn gắn liền với lịch sử của đất nước Cuba với tên tuổi Batista. Chúng tôi đã ngây thơ làm sao, không hiểu hết điều này! Tuy nhiên, trong những trường hợp này, các vụ giết người chỉ diễn ra trong vài phút ngắn ngủi, do một vụ nổ súng máy, khi lòng nhiệt thành của cuộc đấu tranh vẫn chưa hạ nhiệt, và hành vi đó vẫn chưa thể biện minh được.

 

Đây không phải là trường hợp ở Santiago de Cuba. Tất cả các hình thức tàn ác, ác độc và dã man đều được vượt qua ở đó. Ở đó, họ không giết người trong một phút, một giờ hay cả một ngày - những vụ giết người kéo dài cả tuần: đánh đập, tra tấn, ném từ nóc nhà xuống và những phát súng không dừng lại trong một giây. Việc tiêu diệt con người dưới bàn tay của những kẻ giết người chuyên nghiệp được đào tạo bài bản đã diễn ra. Doanh trại Moncada biến thành nhà máy của tra tấn và chết chóc, và một số kẻ không xứng đáng đã biến bộ quân phục thành một loại tạp dề của đồ tể. Các bức tường tóe máu, đạn găm vào tường cùng với những mảnh da, mảnh não, sợi tóc, được phát ra từ những phát súng vô định. Bãi cỏ trong sân pháo đài dính đầy máu đen và nhớp nháp. Bàn tay của những kẻ sát nhân quyết định số phận của đất nước Cuba đã vẽ ra một dòng chữ cho các tù nhân ở lối vào buồng tử hình, treo ở lối vào địa ngục: "Hãy từ bỏ hy vọng, tất cả những ai vào đây."

 

Họ thậm chí không muốn che đậy tội ác của mình ra bên ngoài, thậm chí họ không thèm ngụy trang những gì họ đang làm. Họ nghĩ rằng họ đã lừa dối nhân dân bằng những lời nói dối của họ. Nhưng hóa ra chính họ đã bị cô lừa dối. Họ cảm thấy mình là người làm chủ và làm chủ vũ trụ, kẻ thống trị tuyệt đối sự sống và cái chết của con người. Vì vậy, họ cố gắng xua tan nỗi sợ hãi mà họ đã trải qua vào lúc bình minh trong vũ điệu tử thần này, trong cơn địa chấn thực sự đẫm máu này.

 

Lịch sử của chúng ta kéo dài bốn thế kỷ rưỡi, biết đến nhiều hành động tàn ác, bắt đầu từ việc giết hại những người da đỏ không có khả năng tự vệ, sự tàn bạo của những tên cướp biển tàn phá bờ biển của hòn đảo, sự man rợ của các băng đảng "đảng phái" trong cuộc đấu tranh giành độc lập, hành quyết tù nhân Cuba của quân đội Weiler, sự khủng khiếp của chế độ độc tài Machado và kết thúc bằng tội ác Tháng 3 năm 1935. Nhưng không một tội ác nào có thể so sánh được với trang đẫm máu, tàn khốc và đau buồn này trong lịch sử của chúng ta. Không ai trong số họ, về số lượng nạn nhân và sự tàn bạo của những kẻ giết người, có thể so sánh với những gì đã xảy ra ở Santiago de Cuba. Chỉ có một người tự nhuộm máu mình trong hai thời đại khác nhau trong lịch sử của chúng ta, tra tấn hai thế hệ người Cuba. Và để dòng sông máu này tuôn chảy, chưa từng có trong lịch sử của chúng ta, hắn đã chờ đợi lễ kỷ niệm một trăm năm ngày sinh của Tông đồ, kỷ niệm 50 năm của nền cộng hòa, sự thành lập này đã tiêu tốn biết bao sinh mạng vì tự do, phẩm giá và hạnh phúc của tất cả người dân Cuba. Tội ác này còn khủng khiếp hơn, thậm chí còn nghiêm trọng hơn vì nó đè nặng lên một cá nhân đã trị vì dân tộc ta 11 năm như ông hoàng, theo truyền thống yêu tự do và căm thù tội ác bằng cả tâm hồn; nó nằm ở một kẻ không một phút trung thành với luật pháp trong cả cuộc đời, chưa bao giờ chân thành và cao thượng.

 

Vẫn chưa phải hết với sự phản bội vào tháng 1 năm 1934, tội ác vào tháng 3 năm 1935 và 40 triệu peso bị hắn ta đánh cắp trong thời gian đầu cầm quyền. Hắn ta vẫn cần thêm sự phản bội vào tháng 3 năm 1952 và tội ác của tháng 7 năm 1953, cũng như hàng triệu mà hắn ta đã đánh cắp và con số của chúng sẽ chỉ được biết đến theo thời gian. Dante chia địa ngục của mình thành chín vòng tròn; trong vòng thứ bảy, ông đặt tội phạm, trên thứ tám - kẻ trộm, và thứ chín - kẻ phản bội. Những con quỷ sẽ có một nhiệm vụ khó khăn khi chúng bắt đầu tìm kiếm nơi mà linh hồn của kẻ này xứng đáng ... Mặc dù đây là trường hợp nếu hắn ta có linh hồn! Kẻ chủ mưu đằng sau những vụ giết người tàn bạo ở Santiago de Cuba không có tâm hồn và trái tim.

 

Tôi biết nhiều chi tiết về những tội ác này đã được thực hiện như thế nào từ miệng một số quân nhân; cháy bỏng vì xấu hổ, họ kể cho tôi nghe về những cảnh tượng mà họ phải chứng kiến.

 

Sau khi trận chiến kết thúc, những người lính đánh thuê của nhà độc tài như những con thú dữ lao đến thành phố Santiago de Cuba và trút cơn giận dữ đầu tiên lên những người dân không có khả năng tự vệ. Trên một con phố rất xa nơi xảy ra vụ giao tranh, họ đã bắn chết một đứa trẻ vô tội đang chơi trước cửa nhà. Khi người cha đến đón, họ cũng bắn vào đầu anh ta. Cala, biệt danh Niño, người đang trở về nhà với một giỏ bánh mì trên tay, họ bắn mà không để anh ta nói một lời. Người ta có thể liệt kê vô tận những tội ác tàn bạo đã gây ra đối với dân thường. Và nếu họ hành động theo cách này chống lại những người không tham gia cuộc nổi dậy, thì người ta có thể tưởng tượng ra số phận khủng khiếp của những người bị bắt, hoặc những người bị tình nghi tham gia cuộc nổi dậy. Vì, cũng như trong trường hợp này, họ đã lôi kéo vào vụ việc này nhiều người không liên quan gì đến các sự kiện; theo cách tương tự, họ giết nhiều người bị bắt không liên quan gì đến cuộc nổi dậy. Tất cả những người này đều không có trong danh sách nạn nhân đã được công bố và trong đó chỉ có người của chúng tôi được chỉ ra. Một ngày nào đó con số thực tế của những người bị giết sẽ được biết đến.

 

Người đầu tiên trong số những người bị bắt là bác sĩ Mario Muñoz của chúng tôi, người không có vũ khí, không mặc quân phục mà mặc áo khoác trắng của bác sĩ. Một người đàn ông cao thượng và hiểu biết, anh ta sẽ sẵn sàng giúp đỡ cả chính mình và kẻ thù. Trên đường từ bệnh viện dân sự về doanh trại, anh ta bị bắn vào lưng và gục mặt trên vũng máu. Các cuộc tàn sát tù nhân bắt đầu sau ba giờ chiều. Cho đến giờ ấy, họ đã chờ đợi một mệnh lệnh. Và ngay lúc đó, Tướng Martin Diaz Tamayo đến từ Havana, người mang theo những chỉ thị nhất định được thông qua tại một cuộc họp với sự tham gia của Batista, chỉ huy quân đội, người đứng đầu SIM, Diaz Tamayo và những người khác. Ông nói rằng ông coi đó là "một sự xấu hổ và xấu hổ cho quân đội rằng họ phải chịu thương vong trong trận chiến có số lượng quân gấp ba lần so với những kẻ tấn công, và mười tù nhân phải bị giết cho mỗi binh sĩ thiệt mạng." Đó là mệnh lệnh!

 

Trong mỗi tập thể con người đều có những con người với bản năng bất biến, những tội phạm bẩm sinh, những con vật, những người mang dị vật cổ đại đội lốt con người, những con người - những con quái vật bị kiềm chế bởi kỷ luật và chuẩn mực xã hội, nhưng nếu có cơ hội uống máu sông, sẽ không ngừng uống nó, cho đến khi sông cạn. Những kẻ này cần một mệnh lệnhng như vậy. Những gì tốt nhất ở Cuba, những người dũng cảm nhất, trung thực nhất, thuyết phục được người dân của mình nhất, đã rơi vào tay họ. Bạo chúa gọi họ là lính đánh thuê, và họ chết như những anh hùng dưới bàn tay của những người hưởng lương từ nền cộng hòa, nơi đã cho chúng vũ khí để bảo vệ nền cộng hòa, nhưng chúng lại sử dụng vì lợi ích của một băng nhóm tội phạm, để giết những công dân ưu tú nhất.

 

Trong quá trình tra tấn, họ được yêu cầu giữ mạng sống nếu họ từ bỏ quan điểm của mình. Họ được yêu cầu đưa ra lời khai giả rằng Prio đã cho họ tiền. Và vì họ từ chối, bị xúc phạm bởi một đề nghị như vậy, họ tiếp tục bị tra tấn nghiêm trọng. Chúng bóp nát bộ phận sinh dục, xé toạc đôi mắt, nhưng không một ai trong số họ phản bội, không một lời than vãn hay van xin nào được nghe thấy; ngay cả khi bị tước đoạt bộ phận sinh dục, họ vẫn là những người đàn ông nhiều hơn một nghìn lần so với tất cả những kẻ hành quyết họ gộp lại. Hình ảnh không nói dối. Tất cả những sự phẫn nộ này hiện rõ trên các xác chết. Họ cũng dùng đến các biện pháp khác: không thể phá vỡ sức chịu đựng của đàn ông, họ quyết định thử lòng can đảm của phụ nữ. Với con mắt đẫm máu trên tay, trung sĩ và một số binh sĩ lao vào phòng giam nơi các đồng đội của chúng tôi - Melba Hernandez và Aydee Santamaria - và, đề cập đến sau này, họ nói: “Đây là mắt của anh trai cô, nếu cô không nói rằng anh ấy không muốn cho chúng tôi biết, chúng tôi sẽ móc nốt con mắt thứ hai của anh ta. Cô, người yêu nhất người anh dũng cảm của mình, đã trả lời một cách đanh thép: "Nếu bạn móc mắt anh ta ra và anh ta không nói với bạn điều gì, tôi sẽ không nói với bạn gì cả!" Sau đó, chúng quay trở lại một lần nữa và đốt tay bằng những điếu thuốc đang cháy. Tức giận, chúng nói với Aydeya Santamaria trẻ tuổi: "Cô không còn hôn phu nữa, vì chúng tôi cũng đã giết anh ấy." Và cô lại bình tĩnh trả lời họ: “Anh ấy chưa chết, vì chết cho quê hương là sống”. Chưa bao giờ một phụ nữ Cuba nào lại có thể vươn tới đỉnh cao của chủ nghĩa anh hùng và phẩm giá như vậy.

 

Chúng không thương xót kể cả những người bị thương trong trận chiến và đang nằm trong các bệnh viện khác nhau trong thành phố. Chúng lao đến đó để tìm kiếm họ, giống như những con kền kền tìm kiếm một nạn nhân. Ở bệnh viện Centro Gallego, chúng thậm chí còn xông vào phòng phẫu thuật, nơi người ta đang truyền máu ngay lúc đó cho hai người bị thương nặng. Chúng lôi họ ra khỏi bàn mổ, và vì người bị thương không thể đi lại được nên kéo họ trên sàn nhà đến tầng một và kéo xác chết của họ đã chết dọc đường.

 

Một tội ác tương tự ở Colonia Espanyola, nơi giam giữ hai đồng đội bị thương của chúng tôi, Gustavo Arcos và José Ponce, đã bị ngăn chặn bởi bác sĩ Posada, người đã mạnh dạn tuyên bố rằng chúng chỉ có thể làm điều đó bằng cách bước qua xác của anh ta.

 

Để giết Pedro Miret, Abelardo Crespo và Fidel Labrador, họ được tiêm không khí và long não vào tĩnh mạch trong một bệnh viện quân đội. Những người đồng đội này mang ơn Đại úy Tamayo, một bác sĩ quân đội và một quân nhân lương thiện thực sự. Trước mũi súng, anh mang những người bị thương từ chỗ những kẻ sát nhân và đưa họ đến một bệnh viện dân sự. Năm thanh niên này là những người bị thương duy nhất sống sót.

 

Vào lúc bình minh, các tù nhân được đưa theo từng nhóm bằng ô tô từ pháo đài đến Siboney, La Maya, Songo và những nơi khác. Ở đó, họ, bị trói, bịt miệng, bị biến dạng bởi tra tấn, bị ném ra khỏi xe để bị giết ở những nơi hoang vắng, và sau đó trình bày như thể những người này đã bị giết trong trận chiến. Tất cả những điều này xảy ra trong vài ngày, và rất ít người trong số những người bị bắt sống sót. Nhiều tù nhân đã bị những kẻ giết người buộc phải đào mộ cho mình. Một nam thanh niên bị buộc phải tự đào huyệt đã quay lại và lao một cái cuốc vào mặt một trong những sát thủ. Một số họ bị chôn sống, hai tay bị trói sau lưng. Thi thể của những người dũng cảm được chôn cất ở nhiều góc khuất của Cuba. Chỉ riêng 5 người được chôn cất tại trường bắn Moncada. Sẽ đến ngày phần mộ của họ được mở ra, và người dân sẽ mang hài cốt của những anh hùng này trên vai đến tượng đài mà quê hương tự do sẽ dựng lên cho họ bên cạnh mộ của Liệt sĩ, với dòng chữ: "Các liệt sĩ của thế kỷ."

 

Đồng đội cuối cùng của chúng tôi, người mà họ đã giết ở khu vực Santiago de Cuba, là Marcos Martí. Họ bắt được anh ta tại một trong những hang động ở Siboney vào buổi sáng thứ năm, ngày 30 tháng 7, cùng với người bạn của anh ta là Ciro Redondo. Khi họ bị dắt tay dọc đường, chúng đã bắn người đầu tiên vào phía sau. Anh ta ngã xuống đất và họ kết liễu anh ta bằng một vài phát súng nữa. Họ đưa người thứ hai đến pháo đài. Khi Thiếu tá Perez Chaumont nhìn thấy anh ta, hắn đã thốt lên: "Chúng mày đem nó đến đây làm gì?" Quý tòa có thể nghe câu chuyện về điều này từ miệng của chính chàng trai trẻ, người đã sống sót nhờ điều mà Perez Chaumont gọi là "sự ngu ngốc của những người lính."

 

Toàn tỉnh đã rnhận lệnh giết người. Mười ngày sau ngày 26 tháng 7, một tờ báo trong thành phố đăng bài cho biết thi thể của hai thanh niên bị siết cổ được tìm thấy trên đường từ Manzanillo đến Bayamo. Sau đó người ta khẳng định đây là thi thể của Hugo Camejo và Pedro Velez. Một điều gì đó bất thường cũng xảy ra ở đó. Có ba nạn nhân. Họ được đưa khỏi doanh trại Monsanillo lúc hai giờ sáng. Trên đường đi, họ bị thả xuống và bị đánh đập cho đến khi bất tỉnh, chúng dùng dây siết cổ mọi người. Tuy nhiên, khi những kẻ giết người rời đi, tin rằng các nạn nhân đã chết, một trong số họ, Andres Garcia, tỉnh dậy và nấp trong ngôi nhà của một nông dân. Nhờ anh ta, tòa án cũng có thể tìm ra tất cả các chi tiết của tội ác này. Chàng trai trẻ này là người duy nhất sống sót sau tất cả những tù nhân bị bắt ở khu vực Bayamo.

 

Gần sông Cauto, ở một nơi được gọi là Barrancas, ở dưới cùng của một ngôi trường bỏ hoang, là thi thể của Raul de Aguiar, Armando del Valle và Andres Valdez, bị giết vào lúc nửa đêm trên đường từ Alto Cedro đến Palma Soriano bởi Trung sĩ Montes de Oca, trưởng đồn bảo vệ Miranda Barracks, Hạ sĩ Maceo và Trung đội trưởng của Nhà tù ở Alto Cedro, nơi họ bị bắt.

 

Trong biên niên sử tội ác này, Trung sĩ Eulalio Gonzalez, biệt danh Tiger, từ doanh trại Moncada, sẽ chiếm một vị trí đặc biệt. Người đàn ông này thậm chí không ngần ngại khoe khoang về những việc làm thấp hèn của mình sau đó. Đồng chí Abel Santamaria của chúng tôi đã bị hắn giết chết. Nhưng tội ác này vẫn chưa đủ đối với tay trung sĩ này. Một lần, khi hắn ta trở về từ nhà tù Boniato, trong sân nơi hắn ta nuôi những con gà trống, mẹ của Abel đang đi trên cùng một chiếc xe buýt với hắn ta. Khi tên khốn này hiểu người phụ nữ này là ai, hắn ta bắt đầu lớn tiếng khoe khoang về "chiến tích" của mình. Hắn ta dõng dạc tuyên bố để người phụ nữ mặc đồ tang có thể nghe thấy anh ta: “Đúng vậy, tao đã móc rất nhiều mắt và sẽ tiếp tục như vậy”. Những tiếng khóc nức nở của người mẹ trước sự sỉ nhục hèn nhát này do kẻ giết con mình gây ra cho bà, tốt hơn bất kỳ lời nào, là minh chứng cho sự sa sút đạo đức đáng kinh ngạc mà quê hương chúng ta đang trải qua. Cũng chính những người mẹ này, khi họ đến doanh trại Moncada để tìm hiểu về con trai của họ, đã được trả lời với vẻ giễu cợt ngạo mạn: “Tại sao không, senora! Hãy đến khách sạn Saint Iphichenia, nơi chúng tôi đã thuê phòng cho nó, ở đó bà sẽ thấy anh ta! " Hoặc là Cuba không còn là Cuba, nếu không những kẻ gây ra những tội ác này sẽ phải chịu quả báo khủng khiếp! Những người không có trái tim, họ thô lỗ hét vào những người bỏ mũ của họ khi nhìn thấy xác của những người cách mạng được mang qua.

 

Có rất nhiều nạn nhân mà chính phủ vẫn không dám công bố đầy đủ danh sách của họ. Họ biết những con số không đúng sự thật. Họ biết tên của tất cả những người bị giết, vì trước khi giết tù nhân, họ đã viết ra tên của họ. Tất cả những rắc rối kéo dài với việc xác định danh tính với sự giúp đỡ của nội các quốc gia là một trò hài thuần túy. Có những gia đình vẫn chưa biết về số phận của con mình, dù đã gần ba tháng trôi qua. Tại sao lời cuối cùng không được nói ra?

 

Tôi cũng muốn nói rằng tất cả những người bị giết đều bị lục túi để tìm tiền. Đồ đạc cá nhân được lấy ra khỏi túi, nhẫn và đồng hồ được lấy ra từ người chết - tất cả những thứ này giờ đây đã được mặc một cách trắng trợn bởi những kẻ giết người.

 

Hầu hết những gì tôi vừa nói, quý vị đã biết, quý ông hãy phán xét, từ lời khai của các đồng chí của tôi. Nhưng cũng lưu ý rằng nhà chức trách không cho phép nhiều nhân chứng gây nguy hiểm cho họ và những người có mặt trong phiên họp trước có mặt tại phiên điều trần này. Ví dụ, tất cả các y tá của bệnh viện dân sự đều vắng mặt, mặc dù thực tế là họ ở cạnh chúng tôi và làm việc trong cùng một tòa nhà nơi phiên tòa này đang diễn ra. Họ không được phép đến đây, để không làm chứng trước tòa, trả lời câu hỏi của tôi rằng hai mươi người đã bị bắt ở đây, không kể Tiến sĩ Mario Muñoz. Họ sợ rằng từ những câu hỏi của tôi, các nhân chứng sẽ hiểu ra những điều rất nguy hiểm cho họ sẽ được đưa vào biên bản.

 

Nhưng Thiếu tá Perez Chaumont đã ở đây, và ông ấy không thể né tránh những câu hỏi của tôi. Điều gì đã xảy ra với “người hùng” của những trận chiến chống lại những kẻ tay chân không có vũ khí và bị trói cho ta một ý tưởng về những gì có thể xảy ra trong Cung điện Công lý nếu tôi không bị loại khỏi quy trình này. Tôi hỏi anh ta có bao nhiêu người của chúng tôi đã chết trong các trận chiến nổi tiếng của anh ta ở Sibonea. Anh ta do dự. Tôi nhấn mạnh vào câu hỏi của tôi. Và anh ta trả lời rằng 21 người của chúng tôi đã chết. Biết rằng không có trận chiến nào ở Siboney, tôi hỏi có bao nhiêu người bị thương về phía chúng tôi trong trận chiến này. Anh ta nói với tôi chứ không phải ai khác: tất cả mọi người đều bị giết. Ngạc nhiên, tôi hỏi quân đội đã sử dụng vũ khí hạt nhân chưa. Rõ ràng là khi mọi người bị bắn vào khoảng trống, không có người bị thương. Sau đó, tôi hỏi anh ta những gì mất mát về phía những người lính. Anh ta nói với tôi rằng có hai người bị thương. Cuối cùng tôi hỏi có ai trong số những người bị thương này đã chết chưa. Anh ta trả lời là không. Tôi tiếp tục. Tất cả những người lính bị thương đi qua trước mặt chúng tôi, và trong số họ không có một người nào tham gia vào cuộc giao tranh ở Sibonea. Cũng chính thiếu tá Perez Chaumont này, người đã không đỏ mặt vì xấu hổ sau khi giết 21 thanh niên không có khả năng tự vệ, đã xây dựng một cung điện trị giá hơn 100.000 peso trên bãi biển Ciudamar. Những khoản "tiết kiệm" này được ông thực hiện vài tháng sau cuộc đảo chính tháng Ba. Và nếu thiếu tướng có thể tiết kiệm như vậy, thì các tướng khác còn đã tiết kiệm được những gì nữa!

 

Thưa các vị thẩm phán! Các đồng chí của chúng tôi bị bắt ở đâu vào các ngày 26, 27, 28 và 29 tháng Bảy, trong đó có hơn sáu mươi người ở khu vực Santiago de Cuba? Chỉ có ba người trong số họ và hai cô gái xuất hiện tại phiên tòa. Tất cả những người còn lại đã bị bắt sau đó nhiều. Các đồng chí bị thương của chúng tôi ở đâu? Chỉ có số phận của năm người trong số họ được biết, những người còn lại họ cũng giết. Các số liệu là bằng chứng không thể chối cãi về điều này. Mặt khác, hai mươi người lính là tù nhân của chúng tôi đã đi qua hội trường này, và theo họ, chúng tôi thậm chí không xúc phạm họ một lời. Ba mươi thương binh đã đi qua đây, nhiều người trong số họ bị thương trong các cuộc giao tranh trên đường phố, và không ai trong số họ thiệt mạng. Nếu trong số binh lính có 19 người chết và 30 người bị thương, thì làm sao mà phía ta có 80 người chết và 5 người bị thương? Ai đã từng chứng kiến một trận chiến mà 21 người bị giết và không có ai bị thương, như Perez Chaumont trong những trận chiến "vinh quang" của ông?

 

Dưới đây là những con số về tổn thất trong các trận chiến ác liệt mà phe Giải phóng phải gánh chịu trong cuộc chiến năm 1895 - đây là những tổn thất trong các trận chiến mà nó chiến thắng và trong các trận chiến mà quân Cuba đã bị đánh bại. Trận Indios ở tỉnh Las Villas - 12 người bị thương và không có ai thiệt mạng; trận chiến ở Mal Tiempo - 4 người chết, 23 người bị thương; trận chiến ở Kalimet - 16 người chết, 64 người bị thương; trận chiến ở La Palma - 39 người chết, 88 người bị thương; trận chiến ở Kakarahikara 5 người chết, 13 người bị thương; trận chiến ở Descanso - 4 người chết, 45 người bị thương; trận chiến ở San Gabriel del Lombillo - 2 người chết, 18 người bị thương ... Và trong tất cả các trận chiến này, số người bị thương là hai, ba, và đôi khi gấp mười lần số người bị giết. Hơn nữa, khi đó khoa học y tế không ở trình độ hiện đại, cho phép bạn giảm tỷ lệ tử vong. Làm thế nào bạn có thể giải thích tỷ lệ đáng kinh ngạc: 16 người chết trên 1 người bị thương, trừ khi bạn giải thích nó bằng thực tế là những người bị thương được đưa vào cùng một bệnh viện, những tù nhân không có khả năng tự vệ đã bị giết. Bạn không thể trả lời những con số này.

 

“Xấu hổ và nhục nhã cho quân đội, vốn có số thương vong trong trận chiến nhiều hơn gấp ba lần so với những kẻ tấn công; cần phải tiêu diệt mười tù binh cho mỗi binh sĩ bị giết… ”Đây là ý tưởng về danh dự của các hạ sĩ và quân đội, những người đã trở thành tướng lĩnh sau ngày 10 tháng Ba. Họ muốn biến khái niệm này thành tài sản của quân đội quốc gia. Đây là một danh dự sai trái, đây là một danh dự giả, đây là một danh dự dựa trên sự dối trá, đạo đức giả và tội ác: những kẻ sát nhân nhuộm mặt nạ danh dự bằng máu. Ai nói với họ rằng chết trong trận chiến là điều nhục nhã? Ai nói với họ rằng danh dự của quân đội là giết những người bị thương và tù binh?

 

Những đội quân giết chết tù nhân trong chiến tranh luôn phải nhận sự khinh bỉ và nguyền rủa của cả thế giới. Căn cứ như vậy không có sự biện minh ngay cả trong mối quan hệ với kẻ thù xâm lược đất của quê hương của họ. Như một trong những người giải phóng Nam Mỹ đã viết: “Ngay cả mệnh lệnh quân sự nghiêm ngặt nhất cũng không thể bắt một người lính biến thanh kiếm của mình thành dao của đao phủ”. Một người lính lương thiện không giết một người tù không thể tự vệ sau một trận chiến, anh ta tha thứ cho anh ta, anh ta không kết liễu người bị thương, mà ngược lại, giúp anh ta. Anh ta ngăn chặn tội phạm, và nếu anh ta không thể ngăn chặn tội phạm, thì anh ta hành động như đ��i trưởng Tây Ban Nha đã làm, người nghe thấy những phát súng nhắm vào các học trò, đã bẻ gươm trong cơn thịnh nộ và từ chối phục vụ trong một đội quân như vậy.

 

Những người đã giết tù binh không phải là đồng đội xứng đáng của những người đã chết trong trận chiến. Tôi đã thấy nhiều người lính chiến đấu với lòng dũng cảm đáng nể. Vì vậy, đó là trong trận chiến với những người lính tuần tra, những người đã bắn từ súng máy của họ, chiến đấu với chúng tôi gần như giáp lá cà. Vì vậy, một trong những trung sĩ đã chiến đấu, người, người đã liều tính mạng của mình để gióng lên hồi chuông báo động trong trại. Một số người trong số họ sống sót - điều này làm tôi hạnh phúc. Những người khác bị giết. Họ nghĩ rằng họ đang làm nhiệm vụ của mình, và điều đó khiến họ, trong tâm trí tôi, là những người đáng được ngưỡng mộ và kính trọng. Thật đáng tiếc khi những người dũng cảm đã chết khi bảo vệ một chuyện sai lầm. Khi đất nước Cuba được tự do, nước này phải tôn trọng, chăm sóc và giúp đỡ mẹ và con của những người dũng cảm đã ngã xuống trong cuộc chiến chống lại chúng tôi. Họ không có lỗi trong những bất hạnh của Cuba. Họ cũng là nạn nhân của tình trạng định mệnh này của đất nước.

 

Nhưng vinh quang mà những người lính giành được cho vũ khí của họ, đã ngã xuống trong trận chiến, đã bị chà đạp bởi các tướng lĩnh và lệnh giết tù nhân sau trận chiến. Những người đã trở thành tướng chỉ sau một đêm, thậm chí không bắn một phát súng nào, mua sao cho bản thân, phản bội nền cộng hòa, và ra lệnh giết tù nhân sau một trận chiến mà họ không tham gia - chẳng hạn như các vị tướng vào ngày 10 tháng 3, những vị tướng thậm chí sẽ không thể quản lý những con la trong toa tàu của quân đội Antonio Maceo.

 

Nếu quân đội có số thương vong gấp ba lần chúng tôi, đó chỉ là do người dân của chúng tôi đã chuẩn bị hoàn hảo, chính họ đã nói về điều này, và bởi vì họ đã sử dụng chiến thuật thích hợp, như chính họ cũng thừa nhận. Nếu quân đội đã thể hiện mình kém hơn trong vấn đề này; nếu nó mất cảnh giác mặc dù SIM chi hàng triệu peso cho hoạt động gián điệp; nếu lựu đạn của nó không nổ vì chúng đã cũ, thì đó là vì quân đội có những tướng lĩnh như Martin Diaz Tamayo và những đại tá như Ugalde Carrillo và Alberto del Rio Chaviano. Lần này không phải là khoảng mười bảy kẻ phản bội trong hàng ngũ quân đội, như hôm 10 tháng Ba, mà là khoảng một trăm sáu mươi lăm người đã đi dọc hòn đảo từ đầu đến cuối để gặp tử thần. Và nếu những nhà lãnh đạo này có khái niệm về danh dự quân đội, họ sẽ phải từ bỏ chức vụ của mình, thay vì rửa sạch sự xấu hổ và tầm thường bằng máu của các tù nhân.

 

Giết những tù binh không có khả năng tự vệ và sau đó nói rằng họ đã bị giết trong trận chiến - đây là toàn bộ dũng khí của các tướng lĩnh vào ngày 10 tháng 3! Đây là cách những sát thủ gớm ghiếc trong đội quân của Valeriano Weiler đã hành động trong những năm khắc nghiệt nhất của cuộc chiến giành độc lập của chúng ta. Biên niên sử Chiến tranh có đoạn sau: “Vào ngày 23 tháng 2, Sĩ quan Baldomero Acosta đến Punta Brava cùng với một đội kỵ binh nhỏ. Cùng lúc đó, ở phía bên kia, con đường đối diện, một trung đội của trung đoàn Pizarro đang tiến đến, dưới sự chỉ huy của một trung sĩ tên là Barrigilla. Quân nổi dậy trao đổi nhiều phát súng với binh lính của Pizarro và rút lui dọc theo con đường dẫn từ Punta Brava đến làng Guatao. Năm mươi binh lính của Pizarro được theo sau bởi một đại đội tình nguyện viên từ Marianao và một đại đội trật tự công cộng dưới sự chỉ huy của Đại úy Calvo ... Họ đi theo con đường tới Guatao. Khi đội tiên phong của họ vào làng, việc đánh dân thường bắt đầu. Mười hai thường dân đã thiệt mạng ... Đội trưởng Calvo tấn công những cư dân đang đổ xô về làng và trói chặt họ, khiến họ trở thành tù binh chiến tranh đến Havana ... Không bằng lòng với những tội ác đã gây ra ở vùng lân cận Guatao, họ thực hiện một hành động tàn bạo khác, giết chết một tù nhân và làm người khác bị thương nặng. Hầu tước de Cervera, một kẻ hèn nhát trong quân đội tòa án, đã thông báo cho Weiler về chiến thắng đắt giá mà vũ khí của Tây Ban Nha giành được, nhưng Thiếu tá Sugasti, một người có danh dự, đã tiết lộ sự việc với chính phủ, coi những gì mà Đại úy lừa dối Calvo và Trung sĩ Barriguilla đã làm là sát hại thường dân.

 

Sự can thiệp của Weiler vào vụ việc khủng khiếp này và niềm vui của hắn ta khi biết tin chi tiết về các vụ giết người có thể được nhìn thấy trong công văn mà hắn ta gửi cho Bộ trưởng nhân vụ thảm sát dã man: trật tự bị phá vỡ trong trận chiến các biệt đội của Villanueva và Baldomero Acosta gần Punta Brava (Guatao). Hai mươi người đã thiệt mạng, xác chết của họ được chuyển đến thị trưởng Guatao để chôn cất. Ngoài ra, mười lăm tù nhân đã bị bắt, trong đó có một người bị thương nặng ... Người ta cho rằng có nhiều người bị thương từ phía họ; phía ta chỉ có một bị thương nặng và một số bị thương nhẹ và bị đạn pháo. - Weiler. "

 

Công văn này của Weiler khác gì với các báo cáo quân sự của Đại tá Chaviano, trong đó ông báo cáo về những chiến công của Thiếu tá Perez Chaumont? Chỉ có Weiler báo cáo hai mươi người bị giết, và Chaviano báo cáo 21 người bị giết. Weiler đề cập đến một người lính bị thương trong đơn vị của anh ta, và hai người Chaviano. Weiler báo cáo một người bị thương cho mười lăm tù nhân trong trại địch, và Chaviano không báo cáo bất kỳ người nào bị thương hoặc một tù nhân nào.

 

Cũng như tôi ngưỡng mộ lòng dũng cảm của những người lính đã đối mặt với cái chết một cách đàng hoàng, tôi ngưỡng mộ và thừa nhận rằng nhiều quân nhân đã cư xử với nhân phẩm và không làm bẩn tay mình khi tham gia vào một cuộc chiến đẫm máu. Nhiều tù nhân sống sót mắc nợ cách cư xử đáng kính của quân đội như Trung úy Sarria, Trung úy Kampa, Đại úy Tamayo và những người khác, những người đã bảo vệ những người bị bắt. Nếu những người như thế này đã không cứu vãn được dù chỉ một phần danh dự của quân đội, thì ngày nay việc mặc một chiếc giẻ lau bếp còn hơn là một bộ đồng phục.

 

Vì những người đồng đội đã mất của tôi, tôi không kêu gọi trả thù. Mạng sống của họ là vô giá và họ không thể bị trả giá bằng mạng sống của ngay cả những tên tội phạm gộp lại. Không phải bằng máu mà người ta phải trả giá bằng mạng sống của những người trẻ chết vì lợi ích của nhân dân. Hạnh phúc của dân tộc này là cái giá duy nhất có thể chuộc lỗi với cái chết của họ.

 

Đồng đội của tôi, hơn nữa, không bị lãng quên, và họ không chết. Ngày nay họ còn sống hơn bao giờ hết, và những kẻ giết họ sẽ vẫn kinh hoàng khi thấy một viễn cảnh chiến thắng về những ý tưởng của họ xuất hiện trên cơ thể anh hùng của họ. Hãy để vị Tông đồ nói hộ tôi: “Có giới hạn cho việc thổn thức trước mộ của những người đã chết, và giới hạn này là tình yêu vô bờ bến đối với đất mẹ và vinh quang chiếu trên thân thể họ, và tình yêu đối với tổ quốc và vinh quang không thể bị đánh bại, không thể bị suy yếu, bởi vì thân thể của các vị tử đạo là dành cho chúng ta. bàn thờ đẹp nhất để tôn kính. "

 

... Khi cái chết đến

Trong vòng tay của quê hương biết ơn,

Rồi cái chết ra đi

Hầm ngục đang sụp đổ

Và cuộc sống lại đến!

 

Cho đến nay, tôi đã biện hộ chỉ bằng sự thật. Tôi không quên rằng tôi đang bị xét xử, rằng chỉ tôi bị xét xử; Bây giờ tôi sẽ chứng minh rằng chỉ đứng về phía chúng tôi là có quyền và bản án dành cho đồng đội của tôi và hình phạt mà họ muốn tuyên án tôi không có sự biện minh nào trước lý trí, trước xã hội, hoặc trước công lý thực sự.

 

Tôi muốn được tôn trọng các quý ngài thẩm phán và cảm ơn vì thực tế là các vị không nhìn thấy sự thù địch trần trụi của tôi đối với họ. Các lập luận của tôi chỉ có một mục đích - để chứng minh sự sai lệch và sai lầm của vị trí mà các cơ quan tư pháp đưa ra trong trường hợp này nói chung. Xét cho cùng, mỗi tòa án chỉ là một bộ phận của cơ chế, có nghĩa vụ di chuyển ở một mức độ nào đó theo hướng mà máy móc chỉ ra, mặc dù điều này không cho phép bất kỳ người nào làm trái nguyên tắc của họ. Tôi nhận thức rõ rằng trách nhiệm lớn nhất đối với việc này phải do vị đứng đầu ngành tư pháp gánh vác, mà không có một cử chỉ xứng đáng nào, ngoan ngoãn phục tùng các mệnh lệnh của kẻ soán ngôi, phản bội quốc gia và từ bỏ độc lập của ngành tư pháp. Rất ít thẩm phán trung thực đã cố gắng ít nhất ở một mức độ nào đó khôi phục lại phẩm giá bị xúc phạm của tòa án bằng cách bày tỏ quan điểm bất đồng, nhưng nỗ lực này của một thiểu số không đáng kể, hầu như không thể hiện, đã bị đàn áp bởi lập trường của một đa số ngoan ngoãn và hèn nhát. Tuy nhiên, điều này sẽ không ngăn cản tôi trình bày sự thật của mình ở đây. Nếu sự hiện diện của tôi ở đây, tại phiên tòa, chẳng qua là một vở hài kịch, với sự giúp đỡ mà họ muốn đưa ra sự tùy tiện của luật pháp và công lý, tôi vẫn sẵn sàng xé bỏ bức màn bẩn thỉu che giấu sự ô nhục đó bằng một bàn tay kiên quyết. Rốt cuộc, mọi chuyện thật buồn cười: chính những người đã đưa tôi đến đây để bị xét xử và kết án, bản thân họ đã không thực hiện một yêu cầu nào của tòa án.


Nếu phiên tòa này, như các vị đã nói, là phiên tòa quan trọng nhất mà tòa án đã phải xem xét kể từ khi thành lập nước cộng hòa, thì những lời tôi nói ở đây, có lẽ, sẽ không được lắng nghe vì âm mưu im lặng của chế độ độc tài xung quanh tôi. Nhưng những gì các vị sẽ làm sẽ được trả lại nhiều lần trong tương lai. Bạn nghĩ rằng bây giờ bạn đang xét xử bị cáo, nhưng bạn, đến lượt bạn, sẽ bị phán xét không phải một lần, mà là nhiều lần ... nhiều lần như trong tương lai hiện tại sẽ bị chỉ trích tàn khốc. Và những gì tôi nói ở đây sẽ được lặp lại nhiều lần, không phải vì tôi đã nói ra mà vì câu hỏi công lý là câu hỏi muôn thuở, và trái với ý kiến của các nhà tư vấn và lý luận pháp luật, những người hiểu sâu sắc về nó. Người dân có một logic đơn giản nhưng không thể lay chuyển, loại bỏ mọi thứ vô lý và mâu thuẫn, và nếu ai đó thực sự ghét đặc quyền và bất bình đẳng với tất cả tâm hồn của họ, thì đó chính là người dân Cuba. Anh ấy biết rằng công lý được miêu tả như một thiếu nữ cầm cân và cầm kiếm. Nếu mọi người thấy cách cô ấy cúi đầu hèn nhát trước một số người và giận dữ vung vũ khí của mình chống lại những người khác, họ sẽ quyết định rằng người phụ nữ này là một gái điếm với một con dao găm trên tay. Logic của tôi là logic đơn giản của con người.

 

Tôi sẽ kể cho bạn một câu chuyện. Nó đã xảy ra ở một nước cộng hòa; nó có hiến pháp riêng, luật pháp riêng, quyền tự do riêng, tổng thống, quốc hội, tòa án; tất cả có thể đoàn kết, tập hợp, nói và viết một cách tự do. Đúng là chính quyền không phụ lòng dân, nhưng dân thay được, đến thời điểm đó chỉ còn vài ngày nữa. Trong nước có dư luận xã hội được tôn trọng và tôn trọng, mọi vấn đề lợi ích chung đều được thảo luận tự do. Có các đảng phái chính trị, nhưungx giờ phát thanh cho các bài phát biểu chính trị, các chương trình truyền hình luận chiến và các sự kiện công cộng. Dân tình rất phấn chấn. Nhân dân này đã phải chịu nhiều đau khổ, và nếu nó không hạnh phúc, nó mong muốn hạnh phúc và có quyền làm như vậy. Nó đã bị lừa dối nhiều lần, và nó nhìn về quá khứ với sự kinh hãi thực sự. Nó mù quáng tin rằng quá khứ sẽ không bao giờ xảy ra nữa; nó tự hào về tình yêu tự do của mình và sống bằng niềm tin rằng tình yêu này sẽ được tôn trọng như một điều thiêng liêng. Nó cảm nhận được sự tự tin cao quý rằng sẽ không ai dám phạm tội bằng cách xâm phạm các thể chế dân chủ của nó. Nó nỗ lực vì sự thay đổi, vì một cuộc sống tốt đẹp hơn, vì sự tiến bộ, và nó tin rằng tất cả những điều này không còn xa nữa. Tất cả hy vọng của nó ấy là trong tương lai.

 

Thương thay cho nhân dân đó! Một buổi sáng, người dân tỉnh dậy bị sốc. Dưới màn đêm bao trùm, trong lúc người ta ngủ say, những bóng ma quá khứ bày trò âm mưu, khi tỉnh dậy người dân đã bị trói tay chân, cổ họng bị bóp chặt. Chúng là những móng vuốt quen thuộc với người Cuba. Người dân biết những cái miệng này, những chiếc máy cắt cỏ, những chiếc ủng này ... Không, đó không phải là một cơn ác mộng, đó là một thực tế đáng buồn và khủng khiếp: một người tên là Fulgencio Batista vừa phạm một tội ác khủng khiếp mà không ai ngờ tới.

 

Chuyện đã xảy ra, rằng một công dân khiêm tốn của đất nước đó, người muốn tin vào luật pháp của nước cộng hòa và sự liêm khiết của các thẩm phán, người mà anh ta đã thấy nhiều lần, đã tìm đến Bộ luật An sinh xã hội để tìm hiểu những hình phạt mà xã hội áp đặt lên tác giả của sự việc như vậy và đã thấy được những điều sau:

 

"Bất kỳ ai thực hiện bằng vũ lực bất kỳ hành vi nào nhằm trực tiếp thay đổi, toàn bộ hoặc một phần, Hiến pháp của Nhà nước hoặc hình thức chính quyền được thành lập, sẽ bị phạt tù trong thời hạn từ 6 đến 10 năm."

 

“Bất kỳ ai, không có thẩm quyền hợp pháp và không có lệnh của chính phủ, chỉ huy quân đội, pháo đài, đồn quân sự, khu định cư, máy bay hoặc tàu quân sự, đều bị phạt tù có thời hạn từ 5 đến 10 năm.

 

Bất cứ ai chiếm đoạt việc thực hiện một chức năng mà theo hiến pháp, thuộc về một trong các cơ quan nhà nước sẽ phải chịu hình phạt tương tự. "

 

Không nói lời nào với ai, tay kia cầm mã tấu và giấy tờ tùy thân, công dân này đến một dinh thự cổ ở thủ đô, nơi làm việc của một tòa án có thẩm quyền, có nghĩa vụ khởi tố vụ án và trừng phạt những kẻ có trách nhiệm về hành vi đó. Anh ta đã nộp một bản tường trình bằng văn bản vạch trần những tội ác đã gây ra và yêu cầu Fulgencio Batista cùng mười bảy đồng phạm của anh ta phải ngồi tù với thời hạn 108 năm, theo quy định của Bộ luật An sinh xã hội, và có tính đến tất cả các tình tiết tăng nặng: tái phạm, phản bội, hành động vào ban đêm.

 

Ngày tháng trôi qua. Thật là thất vọng! Bị cáo không ai động đến, hắn đi khắp nước cộng hòa như một vị chủ nhân, hắn được kính trọng gọi là quý ngài và tướng quân, hắn đã cách chức và bổ nhiệm các thẩm phán, và hơn nữa, vào ngày mở phiên tòa, tội phạm ngồi ở một nơi danh dự, giữa các vị tổ sư uy nghi và đáng kính của công lý chúng ta.

 

Ngày và tháng lại trôi qua. Người dân mệt mỏi với sự chà đạp và tùy tiện. Dân tình mệt mỏi!

 

Cuộc đấu tranh bắt đầu, và sau đó người đàn ông này, người đứng ngoài vòng pháp luật, người chống lại ý chí của người dân giành chính quyền và vi phạm pháp luật, bắt đầu tra tấn, giết hại, bỏ tù và đổ lỗi cho những người đấu tranh cho pháp quyền và muốn trả lại tự do cho nhân dân.

 

Thưa quý ngài thẩm phán! Tôi cũng là một công dân bình dị đã từng ra tòa trong vô vọng để yêu cầu trừng phạt những kẻ tham vọng đã vi phạm luật pháp và phá hủy thể chế của chúng ta. Bây giờ tôi bị buộc tội muốn lật đổ chế độ bất hợp pháp này và khôi phục hiến pháp hợp pháp của nước cộng hòa. Tôi bị biệt giam 76 ngày trong phòng giam, không được phép nói chuyện với bất kỳ ai hoặc thậm chí gặp con trai mình. Họ đưa tôi đi khắp thành phố với họng súng nhọn của hai khẩu súng máy. Tôi được đưa đến bệnh viện này để bị xét xử bí mật với tất cả mức độ nghiêm trọng, và công tố viên, cầm quyển luật trong tay, nghiêm khắc nhất yêu cầu tôi 26 năm tù.

 

Các vị sẽ trả lời tôi rằng trong trường hợp đó, các thẩm phán của nước cộng hòa không thể làm gì được, vì họ đã rút lui trước vũ lực. Vậy thì hãy  thừa nhận rằng trong trường hợp này các vị cũng sẽ nhượng bộ để buộc tội tôi. Trong trường hợp đầu tiên, các vị không thể trừng phạt thủ phạm. Vì vậy, trinh nữ của công lý sẽ bị làm nhục bởi vũ lực.

 

Và bao nhiêu lời bàn tán để biện minh cho điều đó chống lại sự biện minh, để giải thích điều không thể giải thích và để hòa giải điều không thể hòa giải! Cuối cùng  sẽ đi đến điểm rằng thực tế tạo ra luật pháp là công lý cao nhất. Nói cách khác, thực tế dưới hình thức những chiếc xe tăng và binh lính đã xuống đường và chiếm giữ dinh tổng thống, ngân khố của nước cộng hòa và các thể chế nhà nước khác và gửi vũ khí đến tận trái tim của người dân cho quyền cai trị nó. Đức Quốc xã đã sử dụng lý lẽ tương tự khi họ chiếm đóng các nước châu Âu và thành lập các chính phủ bù nhìn ở đó.

 

Tôi chấp nhận sự thật rằng cách mạng là nguồn gốc của luật pháp. Nhưng cuộc bạo động vào ban đêm được thực hiện vào ngày 10 tháng 3 không bao giờ có thể được gọi là một cuộc cách mạng. José Ingenieros đã nói bằng ngôn ngữ thô tục, đã trở thành thói quen gọi cuộc cách mạng là những cuộc bạo động nhỏ do một nhóm người bất mãn tổ chức nhằm tước bỏ các đặc quyền kinh tế hoặc chính trị của những kẻ cầm quyền, chỉ thay thế một số người bằng những người khác, phân chia vị trí và lợi ích cho nhau theo một cách mới. Đây không phải là tiêu chuẩn để xác định tính cách mạng đối với nhà triết học nghiên cứu lịch sử, càng không phải là tiêu chuẩn của nhà nghiên cứu khoa học.

 

Sau cuộc đảo chính ngày 10 tháng 3, không những không có những thay đổi sâu sắc trong cấu trúc xã hội của đất nước - ngay cả trên bề mặt của đầm lầy công cộng này, không một làn sóng nào quét qua có thể khuấy động sự mục nát của triều đại. Nếu dưới chế độ trước có nhiều mưu đồ chính trị, trộm cắp, tùy tiện và hoàn toàn thiếu tôn trọng tính mạng con người, thì chế độ hiện nay đã tăng số lượng những mưu mô này lên gấp năm, gấp mười lần sự tùy tiện và gấp trăm lần - sự thiếu tôn trọng mạng sống con người.

 

Người ta biết rằng Barrigilla đã cướp và giết, rằng anh ta là một triệu phú, anh ta sở hữu nhiều tòa nhà cho thuê ở thủ đô, nhiều cổ phần trong các công ty nước ngoài, tài khoản lớn trong các ngân hàng Mỹ, mà anh ta chia tài sản chung có được với vợ mình với số tiền 18 triệu peso, mà anh ta dừng lại. trong khách sạn sang trọng bậc nhất của các triệu phú Mỹ, nhưng sẽ chẳng ai tin rằng Barriguilla lại là một nhà cách mạng. Barriguilla là Trung sĩ Weiler đã giết mười hai người Cuba ở Guatao ... Bảy mươi người đã bị giết ở Santiago de Cuba. De te fibula narratur.

 

Bốn chính đảng thống trị đất nước cho đến ngày 10 tháng 3: đảng Chính thống, đảng Tự do, Dân chủ và Cộng hòa. Hai ngày sau cuộc đảo chính, Đảng Cộng hòa đã gia nhập nhà độc tài. Chưa đầy một năm sau, các đảng Tự do và Dân chủ đã trở lại cầm quyền. Batista không khôi phục hiến pháp, không khôi phục Quốc hội, không khôi phục quyền bầu cử trực tiếp, cuối cùng không khôi phục bất kỳ thể chế dân chủ nào bị phá hủy trong nước, nhưng lại đưa Verdeh, Guas Inclan, Salvito Garcia Ramos, Anaya Murillo lên nắm quyền. Cùng với những nhà lãnh đạo cao nhất của các đảng truyền thống, chính phủ đã nổi lên những kẻ tham nhũng nhất, xảo quyệt nhất, bảo thủ nhất và cổ hủ nhất trong đời sống chính trị Cuba. Đó là cuộc cách mạng Barrigilla!

 

Xa lạ với nội dung cách mạng cơ bản nhất, chế độ Batista là một bước lùi 20 năm đối với Cuba trên mọi lĩnh vực. Mọi người đều phải trả giá đắt cho bước lùi này, nhưng đặc biệt phải trả giá đắt - những tầng lớp nghèo đang chết đói và sống trong nghèo đói, trong khi chế độ độc tài, đã hủy hoại đất nước với những bất ổn, bất lực và sợ hãi bị trả thù cho những gì họ đã làm, tham gia vào chính trị kinh tởm, nghĩ ra ngày càng nhiều điều mới thủ đoạn để nắm quyền bằng mọi cách, không dừng lại ngay cả trước núi xác chết và biển máu.

 

Không một sáng kiến táo bạo nào được thực hiện. Batista hoàn toàn bị ảnh hưởng bởi những người đại diện cho những lợi ích quyền lực. Đúng, không thể khác được, với cách nghĩ của hắn, hoàn toàn không có quan điểm và nguyên tắc nào, hoàn toàn không tin tưởng vào sức mạnh của nhân dân, thiếu sự tin tưởng và ủng hộ của quần chúng. Chỉ có sự thay đổi người cai trị và phân phối lại chiến lợi phẩm giữa bạn bè, người thân, những người tạo nên môi trường chính trị của nhà độc tài. Người dân đã phải chịu đựng bao nhiêu tủi nhục để một nhóm nhỏ những kẻ ích kỷ không chút tôn trọng quê hương có thể tìm được modus vivendi trong bộ máy nhà nước để có một cuộc sống dễ dàng và dễ chịu!

 

Eduardo Chibas đã đúng làm sao, người đã tuyên bố trong bài phát biểu cuối cùng của mình rằng Batista đã đứng lên đòi sự trở lại của các đại tá, vì việc sử dụng dầu thầu dầu trong các cuộc thẩm vấn và giết người "trong khi cố gắng trốn thoát"! Ngay sau ngày 10 tháng 3, những hành động man rợ lại bắt đầu ở Cuba, điều mà người ta cho rằng sẽ không bao giờ lặp lại trên đất Cuba: vụ tấn công vào đài phát thanh "Universidad del Aire" - một tội ác chưa từng có chống lại một thể chế văn hóa, trong đó các băng đảng ở SIM đã hành động cùng với những kẻ giật dây từ Tổ chức thanh niên PAU; vụ bắt giữ nhà báo Mario Cuchilan, người bị đưa khỏi nhà vào ban đêm và bị cắt xẻo một cách dã man đến mức không thể nhận ra; vụ sát hại sinh viên Ruben Batista; và vụ hành quyết tội phạm trong cuộc biểu tình ôn hòa của sinh viên cạnh bức tường nơi bọn tình nguyện viên đã bắn vào sinh viên vào năm 1871. Những người phun ra máu cùng với những mảnh phổi bị vỡ tại các phiên tòa, khi họ bị tra tấn dã man trong ngục tối của các cơ quan trừng phạt, như trường hợp của Tiến sĩ Garcia Barcena. Tôi sẽ không liệt kê ở đây hàng trăm trường hợp các nhóm công dân, bất kể họ là ai - đàn ông, phụ nữ, thanh niên, người già - bị đánh đập dã man. Tất cả điều này diễn ra trước ngày 26 tháng 7. Như bạn đã biết, ngay cả bản thân Hồng y Artaga cũng không thoát khỏi điều này. Ai cũng biết mình trở thành nạn nhân của các cơ quan trấn áp nội bộ. Nó được chính thức tuyên bố rằng đây là công việc của một băng nhóm trộm cắp. Cuối cùng, ít nhất lần này họ đã nói sự thật: thực sự, chế độ này có thể được gọi là gì nữa? ..

 

Mọi người chỉ biết kinh hoàng về vụ một nhà báo bị bắt và tra tấn bằng lửa trong 20 ngày. Mỗi sự thật đều chứa đựng sự hoài nghi chưa từng có, sự giả hình vô biên, sự hèn nhát. Rốt cuộc, để trốn tránh trách nhiệm, họ cố gắng đổ mọi thứ cho kẻ thù của chế độ. Đây là những hành động của chính quyền, không thua kém gì những hành động của những băng đảng xã hội đen ghê tởm nhất. Ngay cả tội phạm Đức Quốc xã cũng không hèn nhát như vậy. Hitler nhận trách nhiệm về vụ thảm sát ngày 30 tháng 6 năm 1934, tuyên bố rằng trong 24 giờ ông ta là Tòa án Tối cao Đức. Và những tên đao phủ, tay sai của chế độ độc tài Batista, không thể so sánh với bất kỳ kẻ nào khác về độ cơ bản, tàn ác và hèn nhát, bị bắt, bị tra tấn, bị giết, và sau đó họ đổ lỗi cho kẻ thù của chế độ về điều này trong nỗi sợ hãi thú vật. Đây là những phương pháp điển hình của Sergeant Barrigiglia.

 

Và không có trường hợp nào mà tôi đã mô tả, các quý ngài thẩm phán, là thủ phạm bị đưa ra công lý và xét xử! Làm thế nào, chế độ hiện tại không thiết lập trật tự ở khắp mọi nơi, hòa bình xã hội và tôn trọng cuộc sống con người?

 

Tôi đã nói tất cả những điều này để được giải đáp liệu có thể gọi tất cả những điều này là một cuộc cách mạng làm phát sinh luật pháp hay không; liệu cuộc chiến chống lại nó có hợp pháp hay không; Quyền lực tư pháp của nước cộng hòa không phải là quyền lực giả mạo nếu nó trừng phạt những công dân muốn giải phóng quê hương của họ khỏi sự xấu hổ như vậy?

 

Cuba phải trải qua một chế độ chuyên quyền tàn bạo và đáng xấu hổ, và bạn không thể không biết rằng việc chống lại chế độ chuyên quyền là chính đáng. Đây là một nguyên tắc được quốc tế công nhận và Hiến pháp năm 1940 của chúng ta đã thánh hóa nó một cách rõ ràng trong khoản thứ hai của Điều 40: "Phản đối sự phản kháng phù hợp là chính đáng để bảo vệ các quyền cá nhân được bảo đảm ở trên." Nhưng ngay cả khi luật cơ bản của chúng ta không thần thánh hóa nguyên tắc này, nó sẽ phải được ngụ ý, vì nếu không có nó thì sự tồn tại của một tập thể dân chủ là không thể tưởng tượng được. Giáo sư Infiesta trong cuốn sách về luật hiến pháp đã xác lập sự khác biệt giữa hiến pháp chính trị và hiến pháp pháp lý. Ông nói rằng "đôi khi các nguyên tắc hiến pháp như nguyên tắc đa số hoặc đại diện trong các nền dân chủ của chúng ta được đưa vào hiến pháp luật, mà - ngay cả khi không được đưa vào - sẽ là bắt buộc do sự đồng ý của người dân." Quyền nổi dậy chống lại chế độ chuyên chế là một trong những nguyên tắc này, dù có được đưa vào hiến pháp hay không, vẫn luôn có giá trị đầy đủ trong một xã hội dân chủ. Đưa ra vấn đề này trước tòa án là một trong những vấn đề đáng quan tâm nhất của luật tiểu bang. Duguit viết trong Chuyên luận về Luật Hiến pháp của mình rằng “nếu một cuộc nổi dậy thất bại, thì không có tòa án nào dám tuyên bố rằng cuộc nổi dậy này không phải là một âm mưu và một nỗ lực nhằm đảm bảo an ninh của nhà nước, vì chính phủ là chuyên chế, và một nỗ lực tiêu diệt nó hợp pháp. " Hãy chú ý một thực tế là ông ta không nói “tòa án không nên”, mà nói rằng “không có tòa án nào dám tuyên bố”; nói cách khác, ông rõ ràng muốn nói rằng sẽ không có một tòa án nào dám nói một điều như vậy, rằng sẽ không có một tòa án đủ dũng cảm sẽ nói một điều như vậy dưới chế độ chuyên chế. Cách thứ ba không có đâu: nếu tòa đủ dũng cảm và làm tròn bổn phận của mình thì sẽ quyết định.

 

Một cuộc thảo luận ồn ào về hiệu lực của hiến pháp năm 1940 vừa kết thúc. Tòa án Bảo đảm Xã hội và Hiến pháp đã ra phán quyết chống lại điều này, ủng hộ một Quy chế mới. Tuy nhiên, thưa quý vị, tôi tin rằng Hiến pháp năm 1940 vẫn có hiệu lực. Tuyên bố của tôi có vẻ lố bịch và lạc lõng. Nhưng đừng ngạc nhiên; Tôi ngạc nhiên rằng tòa án đặc mệnh toàn quyền đã cố gắng bác bỏ một cách căn bản hiến pháp hợp pháp của nước cộng hòa. Cũng như cho đến bây giờ, tôi, chỉ dựa vào những dữ kiện, sự thật và sự vô tội của mình, sẽ chứng minh những điều tôi vừa nêu.

 

Tòa bảo hiến và bảo đảm xã hội được thành lập trên cơ sở Điều 172 của Hiến pháp năm 1940, được bổ sung bởi Luật Hiến pháp số 7 ngày 31/5/1949. Các luật này, do tòa án này được tạo ra, đã cung cấp cho tòa án một thẩm quyền nhất định và cụ thể: xem xét các kháng nghị về tính vi hiến của các luật, nghị định, lệnh hoặc hành động phủ nhận, giảm nhẹ, vi phạm và xâm phạm các quyền và bảo đảm hiến pháp hoặc cản trở hoạt động tự do của các cơ quan nhà nước. Điều 194 đã quy định rất rõ: “Thẩm phán và tòa án có nghĩa vụ giải quyết những mâu thuẫn giữa luật hiện hành và hiến pháp, tuân thủ nguyên tắc hiến pháp luôn được ưu tiên hơn luật”. Do đó, theo các luật mà nó được tạo ra, Tòa án Bảo đảm xã hội và Hiến pháp phải luôn quyết định tất cả các vấn đề có lợi cho hiến pháp. Nếu tòa án này đặt một cách nhìn mới bên trên hiến pháp của nước cộng hòa, điều này có nghĩa là nó đã vượt quá quyền hạn của mình và về bản chất, theo quan điểm pháp lý, quyết định của nó là không hợp lệ. Hơn nữa, quyết định này tự bản thân nó đã là một sự phi lý, và sự phi lý không có giá trị thực tế cũng như pháp lý, nó thậm chí không tồn tại một cách siêu hình. Dù bất kỳ tòa án nào có tôn trọng đến đâu cũng không thể tuyên bố rằng hình tròn là hình vuông và sự sáng tạo kỳ cục của ngày 4 tháng 4 có thể được gọi là hiến pháp của nhà nước.

 

Chúng tôi hiểu theo hiến pháp là luật cơ bản và tối cao của quốc gia, quyết định cấu trúc chính trị của quốc gia, điều chỉnh hoạt động của tất cả các cơ quan của nhà nước và xác định các lĩnh vực và khuôn khổ hành động của họ. Nó phải ổn định, lâu dài và thậm chí, có lẽ, khó khăn. Trạng thái không đáp ứng bất kỳ yêu cầu nào trong số này. Trước hết, nó chứa đựng một mâu thuẫn quái dị, trơ tráo và yếm thế trong việc giải quyết vấn đề cốt yếu nhất - vấn đề toàn vẹn của nền cộng hòa và nguyên tắc chủ quyền. Điều 1 ghi: "Cuba là một quốc gia độc lập và có chủ quyền, được tổ chức như một nước cộng hòa dân chủ ..." Điều 2 ghi: "Chủ quyền nằm ở nhân dân, và mọi quyền lực đều do nhân dân." Nhưng sau đó theo Điều 118, trong đó nói: "Tổng thống của nước Cộng hòa do Hội đồng Bộ trưởng bổ nhiệm." Bây giờ không còn là người dân nữa, mà là hội đồng các bộ trưởng. Ai bầu ra Hội đồng Bộ trưởng? Xem điều 120 khoản 13: “Tổng thống có quyền bổ nhiệm và thay đổi các bộ trưởng khi xét thấy cần thiết”. Sau đó ai chọn ai? Điều này nghe có vẻ giống như một bài toán kinh điển về quả trứng và con gà mà chưa ai giải được?

 

Mười tám nhà thám hiểm tập hợp nhau lại vào một ngày nọ. Họ quyết định cướp nước cộng hòa, ngân sách của nó lên tới 350 triệu. Dưới sự bao phủ của màn đêm, họ đã đạt được mục tiêu của mình với sự giúp đỡ của sự phản bội. "Chúng ta sẽ làm gì tiếp theo?" Một trong số họ nói với những người khác: "Các cậu sẽ bổ nhiệm tôi làm thủ tướng, và tôi sẽ bổ nhiệm các ghế tướng cho các anh." Không sớm nói hơn làm. Sau đó, ông ta gọi hai mươi vệ sĩ của mình và nói với họ: "Tôi sẽ bổ nhiệm các ông làm bộ trưởng, và các ông sẽ bổ nhiệm tôi làm tổng thống." Vì vậy, họ đã bổ nhiệm lẫn nhau các tướng lĩnh, bộ trưởng, tổng thống và tiếp quản ngân khố và nền cộng hòa.

 

Và không chỉ là chuyện chiếm đoạt chủ quyền một lần để bổ nhiệm bộ trưởng, tướng lĩnh, tổng thống; không, một người tự xưng mình trong vị thế là người nắm quyền tuyệt đối không chỉ chủ quyền, mà còn cả sự sống và cái chết của mỗi người dân và sự tồn tại của quốc gia. Vì vậy, tôi tuyên bố rằng các hành động của Tòa án bảo đảm xã hội và hiến pháp không chỉ phản bội và kinh tởm mà còn lố bịch.

 

Có một điều luật trong Hiến pháp không thu hút được nhiều sự chú ý, nhưng đó là mấu chốt của tình huống này, và từ đó chúng tôi rút ra kết luận quyết định. Tôi đang đề cập đến điều khoản sửa đổi trong Điều 257, trong đó nói: "Luật hiến pháp này có thể được Hội đồng Bộ trưởng sửa đổi với đa số 2/3." Ở đây sự lạm dụng pháp luật lên đến đỉnh điểm. Họ không chỉ kiêu ngạo cho mình cái quyền áp đặt hiến pháp mới cho người dân, coi thường ý kiến của họ, họ chiếm đoạt quyền thành lập một chính phủ tập trung mọi quyền lực vào tay mình, mà trên cơ sở Điều 257, họ còn ngạo mạn cho mình thuộc tính chính của chủ quyền - quyền thay đổi luật cơ bản và tối cao của quốc gia. Họ đã làm điều này nhiều lần kể từ ngày 10 tháng 3, mặc dù với sự hoài nghi chưa từng có trên thế giới, họ tuyên bố trong Điều 2 rằng nhân dân có chủ quyền và là nguồn gốc của mọi quyền lực. Nếu số lượng 2/3 trong hội đồng bộ trưởng đủ để sửa đổi hiến pháp, và tổng thống bổ nhiệm hội đồng bộ trưởng, thì quyền thành lập và phá hủy nền cộng hòa sẽ tập trung vào tay một người. Hơn nữa, quyền này tập trung trong tay của kẻ bất xứng nhất đã từng sinh ra trên trái đất này. Và điều này đã được Tòa án Bảo đảm Hiến pháp chấp thuận, và mọi thứ sau đó có hợp lệ và hợp pháp không? Không, hãy nghe kỹ: "Luật hiến pháp này có thể được thay đổi bởi hội đồng các bộ trưởng với đa số hai phần ba." những quyền hạn này không có giới hạn, với sự trợ giúp của họ, bất kỳ điều khoản nào, bất kỳ chương nào, bất kỳ điều khoản nào của hiến pháp và thậm chí toàn bộ hiến pháp đều có thể được thay đổi. Ví dụ, Điều 1, mà tôi đã đề cập, tuyên bố rằng Cuba là một quốc gia độc lập và có chủ quyền, được tổ chức theo nguyên tắc của một nước cộng hòa dân chủ, "mặc dù ngày nay nó thực sự là một chế độ độc tài đẫm máu." Điều 3 nói rằng "lãnh thổ của nước cộng hòa được hình thành bởi đảo Cuba, đảo Pinos và các đảo và đảo nhỏ lân cận khác." Vân vân. Batista và hội đồng bộ trưởng của ông, sử dụng Điều 257, có thể thay đổi tất cả các điều khoản này và tuyên bố rằng Cuba không còn là một nước cộng hòa, mà là một chế độ quân chủ cha truyền con nối, và Fulgencio Batista được Chúa xức dầu. Họ có thể chia cắt lãnh thổ quốc gia và bán một tỉnh cho một thế lực nước ngoài, như Napoléon đã làm với Louisiana. Họ có thể tạm thời xóa bỏ quyền sống và giống như vua Hêrôđê, ra lệnh giết những đứa trẻ mới sinh ra. Tất cả những biện pháp này sẽ là hợp pháp, và các vị sẽ có nghĩa vụ bỏ tù bất cứ ai chống đối, giống như các vị muốn làm với tôi. Tôi đã đưa ra những ví dụ cực đoan để làm rõ hơn hoàn cảnh mà chúng tôi nhận thấy mình đáng buồn và nhục nhã như thế nào. Và tất cả những quyền bao trùm này nằm trong tay những người thực sự có khả năng bán nước cộng hòa với tất cả cư dân của nó!

 

Nếu Tòa án Bảo đảm Hiến pháp chấp thuận một điều khoản như vậy, tại sao tòa không cởi ra và treo chiếc áo choàng của mình lên? Rốt cuộc, nguyên tắc cơ bản của luật nhà nước nói rằng không thể có tính hợp hiến khi các quyền lập pháp và lập pháp được thống nhất trong một các nhân. Nếu Hội đồng Bộ trưởng ban hành luật, nghị định, quy định và đồng thời có thẩm quyền thay đổi hiến pháp trong mười phút - thì tại sao chúng ta lại cần đến Tòa án bảo đảm hiến pháp! Đó là lý do tại sao quyết định của tòa là vô nghĩa, không thể hiểu được, trái với logic và luật pháp của nước cộng hòa - luật mà các vị, thưa quý ông thẩm phán, đã tuyên thệ bảo vệ. Việc tòa án ra phán quyết có lợi cho vị thế này hoàn toàn không có nghĩa là luật tối cao của chúng ta đã mất tác dụng: do đó, Tòa án Bảo đảm xã hội và Hiến pháp đã tự đặt mình ngoài hiến pháp, từ bỏ quyền hạn của mình và tự sát một cách hợp pháp. R.I.P. nó

 

Quyền phản kháng, được quy định trong điều 40 của hiến pháp, vẫn có hiệu lực đầy đủ. Điều này có được thông qua để có hiệu lực trong những ngày mà đời sống của nước cộng hòa đang phát triển bình thường không? Không, vì nó đã được hiến định như thế nào là thuyền cứu sinh đối với một con tàu trên biển cả. Nó chỉ được phóng khi tàu bị trúng ngư lôi của đối phương, kẻ đã chặn nó trên đường đi. Sau khi hiến pháp cộng hòa bị phản bội, sau khi người dân bị tước bỏ mọi quyền lợi của mình, họ chỉ có quyền này, không một thế lực nào có thể tước đoạt được: quyền chống lại áp bức và bất công. Nếu ai đó có bất kỳ nghi ngờ nào - đây là một điều luật trong Bộ luật Bảo vệ Xã hội, mà ông công tố viên có nghĩa vụ ghi nhớ và có nghĩa đen: tước quyền trong thời hạn từ 6 năm đến 10 năm. Chống lại cuộc đảo chính nguy hiểm vào ngày 10 tháng 3 là nhiệm vụ của các cơ quan tư pháp của nước cộng hòa. Người ta hiểu rõ rằng khi không ai trong số họ làm tròn luật pháp, không làm tròn bổn phận của mình thì những người đã làm tròn luật pháp và nghĩa vụ của họ sẽ bị tống vào tù.

 

Các vị không thể phủ nhận rằng chế độ áp đặt lên một quốc gia là không xứng đáng với truyền thống và lịch sử của nó. Trong cuốn sách "Về tinh thần pháp luật", được dùng làm cơ sở cho sự phân chia quyền lực hiện đại, Montesquieu đã phân biệt theo bản chất của chúng ba hình thức chính phủ: "cộng hòa, bao gồm thực tế là quyền lực tối cao nằm trong tay toàn dân hoặc một phần của nó; bản chất của chế độ quân chủ là. Rằng quyền lực này được sở hữu bởi chủ quyền, người chỉ cai trị thông qua các luật được thiết lập; Bản chất của chính quyền chuyên chế là một người cai trị mọi thứ theo ý muốn và sự tùy tiện của mình. " Hơn nữa, tác giả nói thêm rằng "một người mà cả năm giác quan của anh ta đều liên tục thì thầm rằng anh ta là tất cả, và những người còn lại không là gì cả, không thể không tự nhiên là một người dốt nát, lười biếng và sa đọa." “Cũng như dân chủ cần đức hạnh, và chế độ quân chủ cần danh dự, thì chính quyền chuyên chế cần phải sợ hãi. Nó không cần đức hạnh, và danh dự sẽ nguy hiểm cho anh ta. "

 

Quyền nổi dậy chống lại chế độ chuyên quyền, Thưa quý ngài thẩm phán, đã được các tín đồ của mọi giáo lý, mọi ý tưởng và mọi tín ngưỡng, từ xưa đến nay công nhận.

 

Trong các chế độ quân chủ thần quyền tồn tại từ thời cổ đại ở Trung Quốc, trên thực tế có một nguyên tắc hiến pháp, theo đó, nếu nhà vua cai trị kém và chuyên quyền, ông ta sẽ bị loại bỏ và một hoàng tử đức hạnh thay thế.

 

Các nhà tư tưởng của Ấn Độ cổ đại ủng hộ ý tưởng tích cực chống lại sự tùy tiện của nhà cầm quyền. Họ biện minh cho cuộc cách mạng và trong nhiều trường hợp, đưa lý thuyết của họ vào thực tế. Một trong những nhà lãnh đạo tinh thần đã viết rằng “ý kiến được nhiều người ủng hộ mạnh mẽ hơn chính nhà vua. Một sợi dây thừng, được dệt bằng nhiều sợi chỉ, đủ mạnh để buộc một con sư tử. "

 

Các thành bang của Hy Lạp và Cộng hòa La Mã không chỉ công nhận, mà còn biện minh cho cái chết bạo lực của những tên bạo chúa.

 

Vào thời Trung cổ, John Salisbury, trong cuốn "Sách về con người của nhà nước", đã tuyên bố rằng nếu một hoàng tử không cai trị theo luật pháp và biến thành bạo chúa, việc loại bỏ anh ta bằng vũ lực là chính đáng và hợp pháp. Ông khuyến cáo nên dùng dao găm để chống lại bạo chúa, nhưng không dùng thuốc độc.

 

Thomas Aquinas, trong Summa Theologica của mình, đã phủ nhận quyền giết bạo chúa, nhưng ủng hộ ý kiến rằng bạo chúa nên bị người dân loại bỏ.

 

Martin Luther tuyên bố rằng khi một chính phủ biến chất thành bạo chúa vi phạm pháp luật, các thần dân của nó được giải phóng khỏi nghĩa vụ tuân theo. Học trò của ông là Philip Melanchthon ủng hộ quyền phản kháng khi chính phủ biến thành bạo chúa. Calvin, nhà tư tưởng đáng chú ý nhất của Cải cách về các ý tưởng chính trị của ông, dạy rằng người dân có quyền cầm vũ khí để chống lại bất kỳ kẻ nào soán ngôi.

 

Ngay cả tu sĩ Dòng Tên người Tây Ban Nha của thời đại Philip II Juan Marian trong cuốn sách "De Rege et Regis Institutione" của ông cũng lập luận rằng khi một người cai trị chiếm đoạt quyền lực hoặc được bầu chọn, cai trị cuộc sống công cộng như một bạo chúa, trong trường hợp này, việc giết ông ta bởi bất kỳ người nào, công khai hoặc với sự giúp đỡ là hợp pháp. lừa dối. Đồng thời, chúng ta phải cố gắng không để gây mất trật tự.

 

Nhà văn Pháp Francis Gotman cho rằng có một hiệp ước nhất định giữa những người cai trị và thần dân, và người dân có thể nổi dậy chống lại sự chuyên chế của chính phủ nếu vi phạm hiệp định này.

 

Đồng thời, có một cuốn sách rất nổi tiếng mang tên "Vindiciae Contra Tyrannos", được ký bằng bút danh Stefan Junius Brutus. Cuốn sách này công khai tuyên bố rằng đấu tranh chống lại các chính phủ đàn áp người dân là hợp pháp và nhiệm vụ của các thẩm phán được tôn trọng là phải lãnh đạo cuộc chiến này.

 

Các nhà cải cách Scotland John Knox và John Poynet cũng có cùng quan điểm. Và trong cuốn sách quan trọng nhất của những người ủng hộ phong trào này, do George Buchanan viết, có nói rằng nếu một chính phủ nắm quyền mà không có sự đồng ý của người dân hoặc quyết định số phận của mình một cách bất công và sử dụng bạo lực, thì nó sẽ trở thành bạo chúa và có thể bị loại bỏ, và người dân có quyền giết những kẻ đê tiện trong những trường hợp cực đoan.

 

Johann Altusius, một luật sư người Đức vào đầu thế kỷ 17, trong tác phẩm Chính trị ... viết rằng chủ quyền, với tư cách là quyền lực cao nhất của nhà nước, xuất phát từ sự đồng ý tự nguyện của tất cả các thành viên; chính phủ nhận được quyền lực từ nhân dân, và những hành động bất công và chuyên chế của nó đã giải phóng người dân khỏi nghĩa vụ phải tuân theo, biện minh cho cuộc kháng chiến và nổi dậy.

 

Cho đến thời điểm này, thưa quý ngài thẩm phán, tôi đã đưa cho các vị những ví dụ từ thời cổ đại, thời Trung cổ và đầu của lịch sử hiện đại, tôi đã nêu tên các tác giả của mọi xu hướng và mọi tín ngưỡng. Nhưng, như các vị sẽ thấy, quyền này tồn tại trong sâu thẳm đời sống chính trị của chúng ta, nhờ nó, các vị có thể mặc chiếc áo choàng của các thẩm phán Cuba ngày nay, những người chỉ có thể mong ước rằng họ phục vụ công lý.

 

Được biết, ở Anh vào thế kỷ 17, có hai vị vua bị lật đổ vì hành động chuyên quyền - Charles I và James II. Những sự kiện này đồng thời với sự xuất hiện của triết học chính trị tự do, bản chất tư tưởng của một giai cấp xã hội mới đang tìm cách phá bỏ xiềng xích của chế độ phong kiến. Chế độ chuyên chế dựa trên quyền thiêng liêng, triết lý này phản đối nguyên tắc khế ước xã hội và sự đồng ý từ phía những người bị quản lý. Triết lý này là cơ sở cho Cách mạng Anh năm 1688, cũng như các cuộc Cách mạng của Mỹ và Pháp năm 1775 và 1789. Những sự kiện cách mạng vĩ đại này đã tạo động lực cho quá trình giải phóng các thuộc địa Tây Ban Nha trên đất Mỹ, mà mắt xích cuối cùng là giải phóng Cuba. Triết lý này đã truyền cảm hứng cho sự phát triển các ý tưởng chính trị và hiến pháp của chúng tôi, từ Hiến pháp đầu tiên của Guaymaro đến hiến pháp năm 1940. Loại thứ hai đã được tạo ra dưới ảnh hưởng của các trào lưu xã hội chủ nghĩa của thế giới hiện đại, vốn đã thần thánh hóa trong đó nguyên tắc về các chức năng xã hội của tài sản và quyền bất khả xâm phạm của con người đối với sự tồn tại đàng hoàng, việc thực hiện đầy đủ đã bị ngăn cản bởi các lợi ích quyền lực mới nổi.

 

Quyền nổi dậy chống lại chế độ chuyên chế sau đó đã nhận được sự hiến dâng cuối cùng và trở thành điều kiện tiên quyết cần thiết cho tự do chính trị.

 

Ngay từ năm 1649, John Milton đã viết rằng nguồn gốc của quyền lực chính trị là nhân dân, những người có thể bổ nhiệm và loại bỏ các vị vua và có nghĩa vụ loại bỏ bạo chúa.

 

John Locke, trong Two Treatises on Government, lưu ý rằng khi quyền tự nhiên của con người bị vi phạm, người dân có quyền và thậm chí có nghĩa vụ lật đổ hoặc thay đổi chính phủ. "Phương tiện duy nhất để chống lại một lực lượng không nhận được sự ủng hộ của người dân là chống lại nó bằng vũ lực."

 

Jean Jacques Rousseau đã viết một cách hùng hồn trong tác phẩm “Về khế ước xã hội”: “Miễn là người dân, buộc phải tuân theo, tuân theo, họ làm tốt; nhưng ngay khi có cơ hội cởi bỏ ách thống trị, dân chúng vứt bỏ nó, thì họ còn làm tốt hơn nữa, vì nhân dân, khôi phục lại tự do cho chính mình bằng chính cái quyền đã bị tước đi, có quyền lấy lại nó. “Người mạnh nhất không bao giờ đủ mạnh để thường xuyên làm chủ, trừ khi anh ta biến sức mạnh của mình thành luật, và tuân theo nghĩa vụ ... Sức mạnh là sức mạnh vật chất, và tôi không thấy đạo đức có thể bắt nguồn từ ứng dụng của nó. Để nhường quyền lực là một hành động cần thiết, nhưng không phải do ý chí; cùng lắm một sự nhượng bộ như vậy có thể được coi là một hành động thận trọng. Theo nghĩa nào thì nhượng bộ để cưỡng bức là một nghĩa vụ? " “Từ bỏ tự do có nghĩa là từ bỏ phẩm giá con người, quyền con người, thậm chí cả bổn phận của anh ta. Không có phần thưởng nào có thể bù đắp cho việc từ bỏ mọi thứ. Từ chối như vậy là không phù hợp với bản chất con người; tước bỏ mọi tự do khỏi ý chí của một người cũng tương tự như tước bỏ mọi động cơ đạo đức khỏi hành động của một người. Cuối cùng, một thỏa thuận trong đó, một mặt, quyền lực tuyệt đối được tuyên bố, và mặt khác - sự phục tùng không giới hạn, là một thỏa thuận trống rỗng và mâu thuẫn. "

 

Thomas Payne tuyên bố rằng "một người đàn ông trung thực đáng được tôn trọng hơn một tên hề được trao vương miện."

 

Chỉ có những nhà văn phản động chống lại quyền này của các dân tộc, chẳng hạn như linh mục người Virginia, Jonathan Busher, người đã tuyên bố rằng "quyền cách mạng là một học thuyết đáng lên án phát xuất từ Lucifer, cha đẻ của mọi cuộc nổi loạn."

 

Tuyên ngôn Độc lập, được Quốc hội tại Philadelphia thông qua vào ngày 4 tháng 7 năm 1776, đã hợp pháp hóa quyền này trong một đoạn văn tuyệt vời: “Chúng tôi thấy rõ những sự thật sau đây: tất cả mọi người đều được tạo ra bình đẳng và tất cả đều được Tạo hóa ban cho một số quyền không thể chuyển nhượng, bao gồm: cuộc sống, tự do và mưu cầu hạnh phúc. Để đảm bảo các quyền này, các chính phủ đã được thành lập trong nhân dân, sử dụng quyền lực chính đáng của họ từ sự đồng ý của những người bị quản lý. Nếu hình thức chính quyền này trở nên tai hại vì mục đích này, thì người dân có quyền thay đổi hoặc phá hủy nó và thành lập một chính phủ mới dựa trên những nguyên tắc đó và với một tổ chức quyền lực như vậy, theo quan điểm của người dân này, hầu hết có thể đóng góp vào an ninh và hạnh phúc của nó. " ...

 

Tuyên ngôn nhân quyền nổi tiếng của Pháp đã để lại nguyên tắc sau cho các thế hệ mai sau; "Khi chính quyền vi phạm quyền của người dân, thì việc nổi dậy đối với người dân là quyền thiêng liêng nhất và nghĩa vụ quan trọng nhất của họ." "Nếu một người nắm quyền, anh ta nên bị kết án tử hình bởi những người tự do."

 

Tôi cho rằng mình đã chứng minh đầy đủ quan điểm của mình: Tôi đưa ra nhiều lý lẽ hơn ông công tố viên, yêu cầu tuyên phạt tôi 26 năm tù. Tất cả đều đứng về phía những người đang đấu tranh cho tự do và hạnh phúc của nhân dân - không thuộc về kẻ nào đàn áp, hạ nhục và cướp bóc tàn nhẫn họ. Vì vậy, tôi đã phải đưa ra nhiều lý lẽ, nhưng công tố viên không thể đưa ra một lý lẽ nào. Làm thế nào để biện minh cho việc Batista tiếp tục nắm quyền, mà ông ta đã chiếm đoạt bằng vũ lực trái với ý muốn của nhân dân, vi phạm và phản bội luật pháp của nước cộng hòa? Làm thế nào một chế độ đẫm máu, áp bức và đáng khinh bỉ có thể được gọi là hợp pháp? Làm thế nào bạn có thể gọi một chính phủ cách mạng, trong đó những người phản động nhất, tư tưởng và phương pháp của đời sống xã hội được kết hợp? Làm thế nào mà một tòa án phản quốc cấp cao có nhiệm vụ bảo vệ hiến pháp của chúng ta lại có thể được coi là có giá trị pháp lý? Căn cứ vào quyền nào để công dân bị bắt vào tù, những người đã hiến máu và tính mạng vì danh dự của quê hương? Dưới con mắt của quốc gia và từ quan điểm của các nguyên tắc của công lý chân chính, điều này thật quái dị!

 

Nhưng có một sự cân nhắc mạnh mẽ nhất có lợi cho chúng tôi: chúng tôi là người Cuba, và là người Cuba có nghĩa là có những trách nhiệm mà nếu không hoàn thành thì đó là tội ác và sự phản bội. Chúng tôi tự hào về lịch sử của quê hương mình. Chúng tôi đã học nó ở trường và lớn lên khi nghe những lời nói về tự do, công lý và các quyền. Ngay từ khi còn nhỏ, chúng tôi đã được dạy về lòng tôn kính những gương sáng của các anh hùng và các liệt sĩ của chúng tôi. Cespedes, Agramonte, Maceo, Gomez và Marty - đây là những cái tên đầu tiên đã in sâu vào tâm trí chúng ta. Chúng tôi đã được lớn lên với những lời nói của Titan: tự do không phải là đi khất thực, mà là bị chinh phục bằng lưỡi dao rựa. Chúng ta được nghe những lời tuyên bố của Apostle, người đã viết để giáo dục công dân của một quê hương tự do trong cuốn sách Thời đại hoàng kim của mình: “Một người đồng ý tuân theo luật bất công và cho phép mọi người đi lại trên mảnh đất mà anh ta sinh ra, xúc phạm cô ấy, là không trung thực. con người ... Phải có một số phẩm giá trên thế giới, cũng như một số ánh sáng. Nếu có nhiều người không có phẩm giá, thì sẽ luôn có những người khác có phẩm giá của nhiều người. Và họ không sợ hãi vùng lên chống lại những kẻ cướp đi tự do và nhân phẩm của các dân tộc. Hàng nghìn người là hiện thân trong những con người này, toàn thể nhân dân, chính phẩm giá con người ... ”Chúng tôi được dạy rằng những ngày 10 tháng 10 và 24 tháng 2 là những ngày lễ vinh quang, những ngày lễ của lòng tự hào dân tộc, vì chúng có nghĩa là những ngày người dân Cuba nổi dậy chống lại sự áp bức của chế độ chuyên chế đáng xấu hổ. Chúng tôi được dạy để yêu và bảo vệ một biểu ngữ đẹp với một ngôi sao cô đơn và hát một bài thánh ca mỗi tối, trong đó nói rằng sống trong xiềng xích có nghĩa là sống trong sự xấu hổ và nhục nhã, và chết cho quê hương của bạn có nghĩa là tiếp tục sống. Chúng tôi đã học được tất cả những điều này và sẽ không bao giờ quên, mặc dù ngày nay trên quê hương của chúng tôi, những người đang bị giết và bị tống vào tù, những người thực hiện những ý tưởng mà họ đã tiếp thu từ trong nôi. Chúng ta được sinh ra trong một đất nước tự do, mà cha chúng ta để lại di sản cho chúng ta, và hòn đảo của chúng ta sẽ sớm chìm xuống biển hơn là chúng ta đồng ý làm nô lệ của ai đó.

 

Dường như linh hồn của Tông đồ sẽ chết vào năm tròn trăm năm sinh của ông, và ký ức của ông sẽ biến mất vĩnh viễn. Đó là sự xúc phạm đến trí nhớ của Người! Nhưng chí khí của ông còn sống, ông chưa chết, dân chúng quật khởi, hào kiệt, nhân dân trung thành tưởng nhớ ông. Có những người Cuba đã hy sinh để bảo vệ lời dạy của Người, có những chàng trai trẻ, trong một sự thôi thúc tuyệt vời, đã quyết định chết bên cạnh mộ của Người, để cho Người máu và mạng sống của họ, để Tông đồ tiếp tục sống trong linh hồn của quê hương họ. Cuba, điều gì sẽ xảy ra với bạn nếu bạn để Tông đồ của bạn chết!

 

Tôi kết thúc bài phát biểu của mình để bào chữa. Nhưng tôi không làm như tất cả các luật sư làm khi họ yêu cầu tự do cho thân chủ của họ. Tôi không thể đòi hỏi diều đó khi đồng đội của tôi đã phải chịu đựng trên đảo Pinos trong sự giam cầm ô nhục. Hãy đày tôi tới với họ để cùng chia sẻ số phận của họ. Rốt cuộc, rõ ràng những người lương thiện hoặc phải chết hoặc phải vào tù ở một nước cộng hòa mà tổng thống là tội phạm và kẻ trộm.

 

Chúa phán xét, con mang đến cho Ngài lòng biết ơn chân thành vì đã cho phép con tự do thể hiện bản thân mà không gặp trở ngại nhỏ nhặt. Tôi không có ác ý với các vị, tôi thừa nhận rằng ở một số khía cạnh, các vị là nhữn con người; Tôi biết rằng chủ tọa phiên tòa là một người lương thiện không thể che giấu sự ghê tởm của mình đối với tình trạng mà ông ta buộc phải thi hành một bản án oan. Nhưng một câu hỏi quan trọng hơn vẫn còn trước tòa - các trường hợp của bảy mươi người bị giết, một vụ thảm sát dã man nhất mà chúng ta từng biết. Những kẻ thủ ác vẫn tự do đi lại với vũ khí trên tay, và đây là mối đe dọa thường xuyên đối với cuộc sống của người dân. Nếu toàn bộ gánh nặng của luật pháp không đổ lên đầu họ, dù là vì hèn nhát hay vì nó sẽ bị ngăn cản, và tất cả các thẩm phán không từ chức, tôi chỉ có thể tiếc cho danh dự của các vị, rằng một vết nhơ chưa từng có như vậy sẽ rơi vào ngành tư pháp.

 

Đối với tôi, tôi biết rằng nhà tù sẽ là một thử thách đối với tôi, giống như nó chưa bao giờ dành cho bất kỳ ai khác. Nó đầy rẫy những mối đe dọa đối với tôi, sự tàn nhẫn thấp kém và hèn nhát. Nhưng tôi không sợ nhà tù, cũng như tôi không sợ cơn thịnh nộ của tên bạo chúa hèn hạ đã cướp đi mạng sống của bảy mươi anh em tôi!

 

Hãy buộc tội tôi! Không quan trọng!

 

Lịch sử sẽ biện minh cho tôi!

 

 (Sưu tầm và lược dịch)

 

Xem và bình luận tại đây: https://www.facebook.com/namhhn/posts/3421787641216482 


Ý kiến không được cho phép