NGƯỜI VIỄN ĐÔNG

Nơi chia sẻ và lưu giữ các bài viết của Nam Nguyen

NGUYỄN ĐÌNH NGỌC

của Hoàng Xuân Sính:


Nguyễn Đình Ngọc: một cuộc đời
Gémir, prier, pleurer est également lâche,
Fais énergiquement ta longue et lourde tâche
Dans la voie où le sort a voulu t’appeler,
Puis après comme moi, souffre et meurs sans
parler.
(La mort du loup - Alfred de Vigny)
Rên xiết, nguyện cầu hay khóc than đều hèn
nhát,
Hãy có nghị lực thực hiện cái nhiệm vụ dài
và nặng nề của mình
Trên con đường mà số phận muốn gọi anh
đi,
Rồi sau đó sẽ như tôi đây, chịu đựng đau khổ
và chết không một lời than vãn
Nguyễn Đình Ngọc trút hơi thở cuối cùng vào chín giờ kém mười ngày 2 tháng 5 năm 2006. Anh đã sống và chết như Con chó sói của Alfred de Vigny, hoàn thành nhiệm vụ và từ giã cõi đời không một lời kêu đau hay than thở. Sáng ngày 8/5/2006, anh chị em làm Toán đến chào tạm biệt anh Nguyễn Đình Ngọc. Chào tạm biệt thôi vì anh vẫn sống mãi với mọi người, và cuộc đời đặc biệt của anh sẽ lưu truyền như một tấm gương sáng cho thế hệ trẻ noi theo.
Nguyễn Đình Ngọc sinh ngày 13/8/1932, con của bác sĩ Nguyễn Đình Diệp và bà Lê Thị Khoa, một phụ nữ đẹp, hiền hậu, hết lòng vì chồng vì con. Hai ông bà sinh được bốn người con, ba trai và một gái; anh Ngọc là đầu lòng, cô em gái là con út. Dưới thời Pháp thuộc, người bác sĩ được xã hội tôn
vinh coi như thuộc giới trí thức thượng lưu, đời sống thường sung túc. Nhưng bác sĩ Nguyễn Đình Diệp không được các “quan tây” ưa vì tính độc lập và lòng yêu nước, nên luôn luôn bị đầy ải đi những nơi như Sơn La, lúc đó nổi tiếng là ma thiêng nước độc, gần nhà tù giam các chiến sĩ cách mạng. Cho nên gia đình sống đạm bạc, coi như đủ ăn, và đó là cái nôi nuôi dưỡng ý chí của cậu bé
Nguyễn Đình Ngọc từ thuở còn thơ. Kháng chiến toàn quốc bùng nổ đêm 19/12/1946, bác sĩ Nguyễn Đình Diệp trở thành Quân y xá trưởng của Phúc Yên, phụ trách quân y toàn tỉnh; cả gia đình cũng sống tại đây. Cha phục vụ trong quân y, mẹ tần tảo nuôi gia đình, các con còn nhỏ nhưng rất ngoan. Hạnh phúc tưởng như đi cùng với cuộc kháng chiến trường kỳ của dân tộc. Nhưng làm gì có hạnh phúc khi đất nước đang bị quân thù tàn sát? Một tang tóc báo hiệu một bi kịch lớn trong gia đình: đầu năm 1947, ngưòi con thứ ba trong gia đình, bé Nguyễn Đình Sơn bị bệnh rồi mất lúc mới ba tuổi. Rồi đến sự kiện làm thay đổi hẳn cuộc đời Nguyễn Đình Ngọc. Tháng 10 năm 1947, tướng Pháp Salan - Tổng chỉ huy Đông Dương - huy động 12 000 quân mở cuộc tiến công lớn vào căn cứ Việt Bắc với
mục đích trước tiên là tiêu diệt đầu não chỉ huy, bắt Chính phủ Hồ Chí Minh, và tiếp theo là tiêu diệt các lực lượng chủ lực của quân kháng chiến. Cuộc tấn công đồ sộ Thu Đông 1947 của quân Pháp coi bị thất bại. Quân dù nhảy xuống Bắc Cạn, Chợ Đầu bị đánh thua, chạy qua Thái Nguyên, rút về
Phúc Yên tìm đường về Hà Nội. Đó là tháng 12 năm 1947. Sau khi chăm sóc và đưa thương binh đến chỗ an toàn, gia đình bác sĩ Quân y xá trưởng Nguyễn Đình Diệp chỉ còn kịp chạy đến xã Đỗ Tân, ấp Làng Tây, thôn Cầu Vây để ẩn nấp. Tại đây, toàn bộ gia đình bác sĩ Diệp đã bị quân Pháp bắt, nhưng chúng chỉ giải bác sĩ và con trai lớn (mới 15 tuổi) Nguyễn Đình Ngọc đi. Đến Đáp Cầu, đêm ấy, hai cha con bị giam tách ra, người cha chỉ còn kịp dặn con: “Con hãy cố học và giúp người khác học, dân mình khổ trước hết vì giặc dốt”, và ông trao cho con một bộ quần áo lính. Lời và cảnh bi tráng không kém gì Nguyễn Phi Khanh dặn dò Nguyễn Trãi ở biên giới khi Phi Khanh bị quân Minh bắt làm tù binh mang về Trung Quốc. Đêm hôm đó, Nguyễn Đình Ngọc chỉ nghe có một tiếng súng nổ và tất cả lại chìm trong yên lặng. Sáng hôm sau, viên trung uý người Pháp đã bắt hai cha con, hỏi Nguyễn Đình Ngọc có đồng ý làm con nuôi, anh đã từ chối. Tôi không hiểu ý định của viên trung uý khi muốn nhận Nguyễn Đình Ngọc làm con nuôi. Nhưng liên tưởng tới khi quân Pháp bắt được Hoàng Hoa Thám và vợ của ông, Toàn quyền Pháp bấy giờ đã nhận con gái nhỏ Hoàng Thị Thế của ông bà làm con nuôi đến năm 18 tuổi, rồi đưa sang Pháp gả chồng vào một gia đình giàu có, và như thế để triệt không còn nảy sinh một bà ba Đề Thám thứ hai (mẹ của bà Hoàng Thị Thế là một nữ tướng và là vợ ba của Đề Thám); tôi nghĩ có lẽ viên trung uý Pháp cũng có ý định như vậy với Nguyễn Đình Ngọc chăng? Không dụ được Nguyễn Đình Ngọc, chúng bèn đưa về giam ở nhà thương Đồn Thủy nơi điều trị binh linh Pháp thời Hà Nội tạm chiếm, và nay là bệnh viện Quân đội 108. Xót thương anh vô cùng, anh Ngọc ơi! Anh bị giam ở đó vào tháng 12/1947, thế mà tháng 7/2005 anh vào điều trị bệnh ở 108, anh hãy còn nhớ và dẫn chúng tôi đến chỗ bọn chúng giam anh sau khi đã bắn chết cha anh. 58 năm trời, anh đã đi không biết bao nhiêu nơi trên trái đất này, học và làm không biết bao nhiêu việc, cả những việc vào sinh ra tử, để rồi lúc gần đất xa trời lại nhìn thấy nơi đầu tiên bị giam lúc chỉ mới 15 tuổi. Cuối cùng, mẹ anh cũng mang được hai em nhỏ vào Hà Nội tạm chiếm, và tìm được anh. Bốn mẹ con sống chật vật trong đất Hà Nội. Người mẹ tần tảo, bằng mọi giá thực hiện lời dặn của chồng trước khi bị bắn, là cố gắng nuôi hai con trai Ngọc và Kim ăn học nên người, cô em út lúc đó mới một tuổi. Cả hai anh em đều học giỏi nổi tiếng, nhưng học “gạo” thì không ai bằng Ngọc. Ngọc có thể học dưới ánh đèn dầu muỗi đốt thâu đêm, và tài đặc biệt nhất anh vẫn giữ cho tới gần đây khi bị bệnh hiểm nghèo là tự hành hạ “ngủ ngồi”, vì anh sợ nằm ngủ thì dễ ngủ say, ngủ quên, lãng phí thời gian làm việc. Anh học giỏi đủ mọi môn, nhưng môn toán là môn anh đặc biệt thích. Thời đó, trong vùng tạm chiếm, người ta học mọi môn bằng tiếng Pháp. Cho nên mấy cuốn sách toán của Lebossé đã được cậu bé 15 tuổi lôi ra làm hết, làm đi làm lại nhiều lần, phân loại, phân tích, mở rộng... Cậu bé đó sẵn lòng giảng bài khó cho các bạn cùng lớp hay ở lớp dưới khi gặp khó khăn, nhưng khi cậu em ruột kém một tuổi xin giải hộ một bài toán, thì được ngay câu nói như đanh đóng cột: “Tao giảng cho mày, thi ai giảng cho tao?” Một bài dạy tự lực cánh sinh để đời cho em trai. Ngọc học ngày học đêm để cướp lại thời gian bỏ học trong kháng chiến và trong trại giam. 18 tuổi Ngọc đỗ tú tài, vào Đại học Khoa học. 19 tuổi, đỗ Math. géné. 20 tuổi, thi đỗ luôn cùng một lúc hai certificats: Physique générale và Mécanique rationelle. Một thành tích mà ai đã qua hệ thống học đó, đều phải kính nể. Lúc này anh đã được một nữ sinh viên quen biết ở đại học, làm mối cháu gái cho anh; đó là một thiếu nữ xinh đẹp, con nhà danh giá mà xã hội tầng lớp trên đều biết. Tuy vậy, gạt lòng ham mê khoa học, gác tình yêu với cô gái con nhà thượng lưu nhưng lại chăm làm và giản dị, Nguyễn Đình Ngọc đi tìm đường trả thù cho cha.
Quay lại vùng kháng chiến, người thanh niên 20 tuổi, mang mối thù sâu sắc với giặc, đã được Giám đốc Công an Liên khu 4 Nguyễn Hữu Khiếu chú ý. Ông nói với anh: “Trung với nước, hiếu với cha, là phục tùng sự sắp đặt của trên”. Anh đã nói với tôi: “Lệnh đã là như vậy, chỉ còn cứ thế mà đi”.
Cuối năm 1953, sau vài tháng huấn luyện, anh được đưa vào Hà Nội còn bị tạm chiếm, chỉ có một lệnh ngắn ngủi: phải cố gắng lọt vào xã hội thượng lưu Sài Gòn, đợi liên lạc mang lệnh hành động đến. Nguyễn Đình Ngọc đã cắt một phần cái dây đồng hồ anh đang đeo để lại làm vật tin, sau này người nào có mẩu dây đồng hồ khớp với phần dây còn lại của anh, thì sẽ là người của trên đến
ra lệnh hành động. Anh vào Hà Nội không mấy suôn sẻ. Hà Nội lúc đó đang nhốn nháo
tin Pháp thua trận liên tiếp ở Điện Biên. Thế mà lại có một thanh niên ở tuổi lẽ ra đang là bộ đội giải phóng lần mò về vùng tạm chiếm. Trên đường từ vùng tự do vào Hà Nội, anh bị Pháp giam giữ ở Nam Định, vì bị nghi ngờ là người của mình cài. Anh một mực khai là thày giáo, bị lao nên phải vào
Hà Nội chữa chạy. Bệnh lao mà thực sự anh đã mắc phải sau những năm tháng thời niên thiếu sống kham khổ để học hành đến ngủ ngồi, đã chứng thực lời khai của anh với địch, và họ để anh vào Hà Nội. Thành phố lúc này lộn xộn, bẩn thỉu, bụi mù vì xe nhà binh Pháp nhốn nháo phóng khắp mọi nơi. Anh đi gặp lại “dì Tâm” bà mối hai năm về trước, gửi dì Tâm cái nhẫn đính hôn, nhờ chuyển cho người thiếu nữ mình yêu. Anh nói: “Nếu nhẫn rộng thì cắt bớt đi, nếu nhẫn hẹp thì đánh thêm vào, xin sẽ gặp sau này.” Tháng 4 năm 1954, gia đình người yêu vào Nam. Tháng 7 anh cũng theo dòng
người di tản vào Nam, và tìm đến ngay nhà người yêu để đặt vấn đề chính thức. Anh đi dạy tư để lấy tiền ăn học.
Hè năm 1955, anh thi đỗ Calcul diff., xong licence. Ngày 27 tháng 10 năm 1955 anh lấy vợ. Được học bổng để học kỹ sư Khí tượng, tháng 11 năm 1955 anh lên đường đi Pháp. Vợ anh đến
Pháp tháng giêng năm 1956. Một cháu trai ra đời cuối năm 1956. Một gia đình ba người chỉ sống vào học bổng của một sinh viên, vợ anh phải đi làm thêm. Họ sống với nhau hạnh phúc, vợ đi làm và chăm sóc con, chồng cắm cúi vào học. Có lẽ giới Việt kiều chúng tôi ở Pháp chưa bao giờ lại gặp một người có sức làm việc phi thường như vậy. Học kỹ sư Khí tượng, nhưng đồng thời anh chuẩn bị luận án tiến sĩ cấp ba (kiểu tiến sĩ của ta hiện nay) về Địa Vật lý. Sau đó vừa học kỹ sư Đóng tàu vừa chuẩn bị luận án tiến sĩ khoa học về Toán với giáo sư Charles Ehresmann ở Đại học Sorbonne (Paris). Tất cả chương trình này anh hoàn thành năm 1963. Không ngừng ở đó, anh tiếp tục học kỹ sư Viễn thông. Lúc này anh đã xin được poste maître de conf. ở Đại học Rennes (poste này của Yvette Amice bỏ đi tỉnh khác nên bị trống) cách Paris hơn 300 km. Ngoài ra anh còn làm việc ở Viện nghiên cứu nổi tiếng I.H.E.S. Sau này, tôi hỏi anh học gì mà học lắm thế? Anh trả lời: điều đó có ích cho công tác tình báo chiến lược của anh. Anh sống rất tiết kiệm, đi xe lửa từ Paris qua đêm đến Rennes, ngồi ở ga đợi sáng để đến đại học lên lớp, không có khái niệm thuê khách sạn nghỉ trong thời gian dạy ở tỉnh như nhiều giáo sư khác. Anh ăn mặc lôi thôi: bạn cho cái áo vét dài gần đến đầu gối, vẫn cứ mặc;
đôi giày có hơi rộng, vẫn cứ đi. Và còn điều này anh làm sinh viên Pháp khiếp vía: có một năm, anh đánh trượt toàn thể sinh viên Math.géné. ở Rennes vì anh đòi hỏi cao ở người học. Hiệu trưởng đề nghị anh chấm lại, anh cương quyết giữ điểm đã cho; cuối cùng người ta phải mời một giáo sư khác
chấm để còn có sinh viên đỗ. Mười năm ở Paris, anh vào vai “chống Việt Minh” rất đạt. Thời đó sinh viên Việt Nam chia làm hai phái, phái ủng hộ miền Bắc và phái chống lại. Cả hai phái đều thực hiện ba “không”: không cùng ăn, không cùng học, không cùng chơi. Anh Ngọc không thân với phe nào, đi ăn bao giờ cũng ngồi một mình ở nhà ăn. Nhưng thỉnh thoảng lại chõ vào chọc ghẹo bọn “Việt Minh”, chẳng hạn như: “Cu Treo – anh gọi Khơ-rup-sốp như vậy - sắp sang Paris, Việt Minh có mang cờ đi đón không?” “Việt Minh” tức lắm, họp ban chấp hành để đánh giá Nguyễn Đình Ngọc. Cả ban chấp hành, trừ hai người xin bảo lưu ý kiến, đánh giá anh là một tay phản động, lại thêm có cỡ, vì đã nghiên cứu Tư bản luận của Mác một cách nghiêm túc. Hai ý kiến xin bảo lưu thì cho rằng không thể kết luận ngay là phản động vì chưa hề thấy anh đi với phe “kia”, còn đọc Tư bản luận thì chỉ là tò mò ham hiểu biết của anh trí thức. Họ cho một ví dụ về cái gì cũng muốn biết của anh: anh đi nghe opéra, hay quá, mê quá, nhưng tiếc là hát bằng tiếng Đức nên anh không hiểu lời. Không hiểu lời, anh ngồi học tiếng Đức liền ba tháng, rồi lang thang dọc bờ sông Seine nơi bán sách cũ, và anh đã mua được bản nhạc với lời như anh mong muốn. Mừng quá, anh khoe toáng lên, với một “Việt
Minh” có ý kiến bảo lưu về anh, rằng đã đọc bản nhạc bằng tiếng Đức, hay ơi là hay, quên khuấy mình đang phải đóng vai xa lánh “Việt Minh”. Tội nghiệp anh, đang tuổi thanh xuân, yêu mọi thứ hay, thứ đẹp trên đời, mà để khen một bản nhạc cũng không có người để nói điều mình đang thích.
Anh dạy ở Rennes không lâu. Cuối năm 1965, vợ anh, người biết công việc làm của chồng, đi lại giữa Paris và Genève để nhận thông tin của cấp trên cho anh. Rồi đầu năm 1966, lần này anh phải đi Thụy Sĩ để nhận trực tiếp lệnh của cấp trên lên đường về miền Nam. Anh không đi Genève mà đến
tận Lucerne (gần biên giới Đức) để nhận lệnh. An ninh Pháp không hay biết gì cả, tuy lúc đó họ có hồ sơ rõ ràng của từng lãnh đạo chóp bu Hội Liên hiệp Việt kiều. Người vợ lái xe tiễn chồng ra sân bay về Sài Gòn mà cứ tưởng không phải anh đi thật. Chiều chiều, cùng con nhỏ, chị ngóng nhìn cửa căn
hộ, những tưởng nghe thấy tiếng chân anh bước về.
Anh rời Paris tháng 2 năm 1966, chỉ sau ít ngày tôi từ Berlin đến Paris. Hỏi tin tức anh, tôi được hay anh đã về Sài Gòn, để lại vợ con ở Pháp. Tôi không hiểu chuyện gì hết, và không bao giờ lại có thể nghĩ rằng anh là một tình báo, được cài vào Sài Gòn làm nhiệm vụ. Về đến Sài Gòn, anh xin dạy ở Trường Đại học Khoa học. Anh thuê một căn hộ ở đường Công Lý. Anh đi dạy học và kiên nhẫn đợi liên lạc đến mang lệnh của cấp trên giao nhiệm vụ hoạt động. Ngày đó đến, nhưng không phải tại Sài Gòn. Anh phải ra Đại học Huế gặp một người tên là Phương Lan. Anh ra Huế, nghĩ mình sẽ gặp một cô gái trẻ và chắc là xinh đẹp, do cái tên Phương Lan gợi nên. Nhưng người tên Phương Lan là một người đàn ông trung niên trông như một nông dân, làm văn thư ở Đại học Huế. Hai mẩu dây đồng hồ đã bị cắt đôi năm 1954 ở cái vùng tự do xa xôi miền Bắc, nay được chắp lại; và từ đó Phương Lan chính là người đưa lệnh của trên đến cho điệp viên Diệp Sơn. Bí danh của anh là Diệp Sơn, Diệp là tên cha – quân y xá trưởng hy sinh năm 1947, Sơn là tên người em trai cũng mất năm 1947. Từ đó, anh xin đi dạy Đại học Huế luôn luôn để gặp cô gái xinh đẹp Phương Lan, như chúng tôi bây giờ lỉnh tổ chuyên môn để đi dạy tại chức kiếm tiền ở khắp mọi nơi, hết trong Bắc lại ngoài Nam.
Tuy ở riêng, nhưng anh ăn cơm ở nhà cô em vợ có chồng làm tướng đô đốc hải quân. Gia đình vợ anh, với nhiều tướng tá trong quân đội Sài Gòn nhưng có lòng yêu nước, là một vỏ bọc tuyệt vời cho anh, và cũng giúp anh có những tin tức quân sự quan trọng. Anh không nói rõ cho tôi sự giúp đỡ
của gia đình nhà vợ, nhưng nghe anh kể, tôi cũng hiểu ra. Xe jeep và lái xe của đô đốc hải quân đưa anh đến biên giới vùng tự do, từ đó anh vào cứ để họp, nghe nhận định tình hình, nhận lệnh. Mỗi lần như vậy là hàng tháng; sau đó anh lại quay về đường giáp ranh, và lại có xe jeep và lái xe đợi, đưa
anh về Sài Gòn. Tôi đã băn khoăn không biết có nên kể sự thật như vậy không, nhưng tôi nghĩ giờ nên nói đúng việc xảy ra, để con cháu sau này học sử hiểu rằng trong mỗi người Việt Nam đều có lòng yêu nước. Tôi nhớ mãi không quên câu chuyện giữa hai nhà lãnh đạo Lê Đức Thọ và Chu Ân Lai, gặp nhau sau khi cố vấn Lê Đức Thọ đàm phán xong với Mỹ ở Paris về, tạt qua Trung Quốc. Thủ tướng Chu Ân Lai có nói rằng, trong việc đàm phán, vấn đề phiên dịch là một vấn đề khó mà Trung Quốc gặp phải, vì một phiên dịch chỉ có thể chuyên về hoặc quân sự, hoặc chính trị, hoặc kinh tế ..., chứ không thể biết tất cả. Ông hỏi Việt Nam giải quyết thế nào trong hội nghị Paris? Câu trả
lời của cố vấn Lê Đức Thọ: chúng tôi sử dụng cả Việt kiều ở Pháp, có một phiên dịch là nghiên cứu sinh về Toán, mà cả gia đình đi đều di tản vào Nam năm 1954; người Việt Nam ở bất cứ thành phần nào, ngay cả địa chủ hay tư sản, đều có cái chung là lòng yêu nước. Tôi nghĩ khi cố vấn Lê Đức Thọ nói như vậy là nói thật lòng; Việt kiều ở Pháp đã giúp rất nhiều trong hội nghị Paris.
Một lần, để minh hoạ việc học nhiều lãnh vực ở Pháp đã giúp anh trong công việc tình báo, anh kể một câu chuyện của năm 1970. Anh nghe tướng tá quân đội Sài Gòn nghiên cứu kỹ khí tượng của một vùng. Anh suy ra ngay, nghiên cứu khí tượng có nghĩa sẽ có một cuộc hành quân lớn với nhiều trực thăng, và cuộc hành quân lớn phải là để đánh vào cơ quan đầu não của ta. Nhận định như vậy rồi, phải chuyển tin đi ngay. Không may lúc đó là 9 giờ tối, giờ thiết quân luật. Anh đứng ngồi không yên, đợi trời chóng sáng. 5 giờ sáng, anh đã đi ra ngoài, và chuyển tin đi ngay. Đó là năm 1970. Mười lăm năm sau, trong một chuyến công tác với đoàn Quốc hội sang Campuchia, có tướng Trần Độ. Tôi
được nghe ông kể: năm 1970, khi Mỹ đánh úp Trung ương Cục trong một cuộc hành quân lớn, nhờ tình báo kịp đưa tin, nên ta rút an toàn, tiểu đội ở lại để bảo vệ căn cứ đã hy sinh anh dũng. Quân Mỹ nhặt được một tấm ảnh của tướng Trần Độ, mặc quần soóc, chân đi dép lốp, súng ngắn đeo hông, bức
ảnh đó đã được đăng trong cuốn hồi ký của một tướng Mỹ dự cuộc hành quân đó. Nhìn bức ảnh đó, tôi lại nghĩ đến chiến công thầm lặng của anh.
Tháng 10 năm 1967, đang ở khu sơ tán Viên Nội - Hà Tây, khoa Toán nhận được lệnh cho GS Đoàn Quỳnh và tôi về Hà Nội để gặp nhà toán học Grothendieck. Ông được giải thưởng Fields năm 1966, và quyết định sang thăm giảng bài ở Việt Nam mặc dù Mỹ đang ném bom miền Bắc. Tuần lễ
đầu, ông giảng bài ở Hà Nội. Buổi sáng giảng bài, buổi chiều tiếp các nhà toán học trẻ Việt Nam ở khách sạn Thống Nhất, nay là Métropole-Sofitel. Nhiệm vụ của tôi là dự các buổi gặp gỡ buổi chiều của Grothendieck với các bạn trẻ, và cũng để kìm chân Grothendieck không cho ra ngoài khách sạn vì cảnh giác của thời chiến. Một buổi chiều, tôi cũng định ngủ trưa xong thì đạp xe đến khách sạn. Không ngờ mệt quá, tôi ngủ quên đến 4 giờ chiều. Sợ quá, tôi vớ quàng lấy xe đạp, phóng nhanh đến Thống Nhất. Vừa tới cửa, anh phụ trách an ninh của Grothendieck đã hầm hầm hỏi tôi: “Chị đi
đâu mà bây giờ mới đến? Chị có biết là Grothendieck, không nói với ai, tự đến nhà mẹ của Nguyễn Đình Ngọc? Chị có biết Nguyễn Đình Ngọc là ai không? Một anh phản động, học ở Paris, rồi bỏ về Sài Gòn. Bây giờ chị phải làm sao để Grothendieck kể cho chị là ông ta gặp mẹ Nguyễn Đình Ngọc
thế nào và nói những gì?” Tôi hoảng quá, lên phòng Grothendieck ngay, hoang mang không biết làm thế nào để ông nói. May quá, khi gặp, ông vui mừng kể cho tôi nghe, ông hỏi đường đi ở lễ tân và dễ dàng tìm thấy nhà mẹ Nguyễn Đình Ngọc. Nhưng buồn là bà cụ không nói tiếng Pháp, còn ông thì
không nói được tiếng Việt. Họ chỉ tay bắt mặt mừng, rồi Grothendieck trao cho bà cụ một cái radio, một món quà rất quý thời đó, dùng để nghe tin tức hay nếu cần tiền bán đi thì là cả một món lớn. Tôi cáu kỉnh hỏi Grothendieck là đi sao lại để mọi người biết? Nhà toán học giỏi vào bậc nhất thế giới,
nhưng cũng nổi tiếng ngây thơ chuyện đời trong giới toán học trả lời hóm hỉnh - như trẻ thơ làm được một chiến công mà người lớn cấm - là do đi khoe thành tích nên mọi người mới biết đấy chứ. Tôi báo cáo lại với an ninh, coi như hoàn thành nhiệm vụ. Sau này, tôi kể chuyện đó với anh, anh phì cười.
Chiến tranh kết thúc năm 1975, tôi đang ở Paris lúc bấy giờ. Tôi đi hỏi mọi người xem có ai trông thấy Nguyễn Đình Ngọc chạy sang Pháp hay Mỹ, tôi đâu có dè lúc đó anh đang nằm ở khu ĐH Thủ Đức trông nom, đợi đoàn tiếp quản vào để giao. Không ai biết anh là ai; còn anh, anh ngoan ngoãn
đóng vai công chức “lưu dung”, đợi người đến. 1976, tôi gặp anh ở ĐH Khoa học Sài Gòn, nhờ một người bạn báo với tôi đến đó có Ngọc ở đấy. Trông anh xanh xao như người bị sốt rét. Anh nói với tôi mấy câu rồi đi ngay, vì ở đó đông người. 1977, anh được điều ra Bắc làm việc, hiện nguyên hình là
một trung tá của Bộ Nội Vụ. Anh đến tìm tôi ở ĐH Sư phạm tại Cầu Giấy, và từ đó tôi mới biết dần dần công việc của anh. Đáng lẽ anh còn tiếp tục di tản đi Mỹ như đã di tản vào Nam năm 1954. Nhưng vai trò tình báo của anh đã lộ, cảnh sát chuẩn bị bắt anh. May mà quân mình kịp đánh đến giải phóng Sài Gòn.
Phần lớn tình báo của mình, khi chiến tranh kết thúc năm 1975, đều được nghỉ. Nhưng anh thì lại bắt đầu làm công việc sử dụng chuyên môn của mình với các chức vụ Phó Cục trưởng Cục Khoa học và Kỹ thuật, rồi Cục trưởng Cục Khoa học Viễn thông - Tin học ở Bộ Nội vụ, đồng thời chủ tịch của
nhiều hội đồng khoa học. Ngoài ra, ở các trường đại học và viện nghiên cứu, có chương trình khoa học nào mà anh thích, anh tham gia tất. Anh làm khoa học như để bõ cơn thèm, vì đã không được toàn tâm toàn ý với nó do bận làm tình báo trong một thời gian dài. Anh sinh ra để làm khoa học,
đó làm ham thích duy nhất của cuộc đời anh. Nhưng vì thù nhà nợ nước, anh đã gác “bút nghiên” để làm nhiệm vụ thiêng liêng cho tới khi hoàn thành, rồi mới lao vào cái say mê lớn nhất của cuộc đời mình. Kết thúc cuộc đời tình báo với lon trung tá, anh tiếp tục sự nghiệp bằng con đường chuyên môn
và được phong thiếu tướng do thành tích khoa học. Người ta nói, con người, từ cổ chí kim, có ba đam mê: quyền lực, tiền bạc và phụ nữ. Anh thoát khỏi cái vòng kim cô đó, nhưng lại mắc phải cái đam mê của các nhà khoa học lớn, đó là sự say mê khám phá, đưa nhân loại từ bóng đen dốt nát đến với ánh sáng hiểu biết tuyệt vời.
Nguyễn Đình Ngọc người bé nhỏ, nhưng gặp anh, người ta chỉ nhìn thấy bộ mặt khôi ngô tuấn tú, cặp mắt hiền-trí thức-hóm hỉnh, nhưng lại đi kèm với cặp lông mày xếch ngược quắc thước, mà tôi thường nghĩ thầm chắc anh hãnh diện với bộ lông mày hiếm có này vì thỉnh thoảng anh lại lấy tay vuốt ngược chúng lên. Con người anh mảnh dẻ, nhưng anh cho người ta cảm tưởng một thể
chất phi thường. Anh ăn mỗi ngày một bữa, vào buổi tối, ăn rất nhiều, năm hay sáu bát cơm, có thức ăn thì càng tốt, chỉ có rau cũng không sao. Nhiều đêm anh thường ngủ ngồi, thói quen từ thời niên thiếu, sợ ngủ nằm thì thiếp đi ngủ say mất, sẽ lãng phí thời gian.
Anh còn có thói quen ngủ ngoài balcon những đêm đông, nằm thẳng trên gạch lót giấy báo, đây cũng là một thói quen tập luyện gian khổ thời làm tình báo - theo anh kể - phải luyện tập gian khổ để nếu bị bắt sẽ chịu đựng được cực hình tra tấn của địch. Anh chỉ quen mặc quần áo cũ, nhưng trông
anh lúc nào cũng gọn gàng sạch sẽ - thực ra vì khuôn mặt sáng sủa của anh cho người ta ấn tượng sạch sẽ - chứ anh làm gì có thì giờ nhiều để giặt quần áo. Anh quen đi một cái xe đạp cũ mà mấy cô đồng nát cũng phải chê, nhưng anh rất thoải mái với nó, đi ung dung từ tốn như người thoát tục, ngay cả lúc bị bệnh nặng anh vẫn lấy xe đạp đi trong thành phố. Ngoài lãnh vực chuyên môn của mình, anh hiểu biết rất rộng, lãnh vực nào cũng tham gia góp ý được. Anh thành thạo nhiều ngoại ngữ, dịch trực tiếp rất giỏi.
Nói về anh, anh bảo anh giống tính mẹ anh, hay dỗi và thích làm nũng. Người thân thì bảo anh không có tuổi thơ, bị buộc làm người lớn quá sớm, nên sống như hành xác, cơ thể nó cũng khổ vì phải sống với anh. Một người bạn thân thuở nhỏ của anh, có lẽ đã xác định anh rõ nhất, đó là anh giống như Con Chó Sói của Alfred de Vigny. Tạm biệt anh Nguyễn Đình Ngọc.
Hoàng Xuân Sính (ĐHSP Hà Nội)
Ý kiến không được cho phép