NGƯỜI VIỄN ĐÔNG

Nơi chia sẻ và lưu giữ các bài viết của Nam Nguyen

QUANG DŨNG VÀI CẢM NHỚ

Mượn của tác giả Trịnh Xuân Tiến

( https://www.facebook.com/groups/lichsuviet/permalink/3454373337989616/?__tn__=K-R )


Lứa chúng tôi không được học Tây Tiến. Vì thế, tò mò và hâm mộ lắm. Hồi nhỏ, khi đi tập quân sự từng nghe mấy anh lớp trên nghêu ngao câu thơ đùa
“Lựu đạn đây rồi lựu đạn ơi
Lựu đạn xuống hồ lựu đạn bơi…”

Rồi mới biết, đó là câu thơ nhại, hay như cách nói bây giờ, thơ chế. Chế khổ đầu trong bài thơ nổi tiếng của Quang Dũng
Sông Mã xa rồi Tây Tiến ơi…

Một cách mở đầu thơ chả giống ai. Và cả bài thơ cũng phá cách quá, lạ lùng quá, lớp học sinh bé con chúng tôi nào đã gặp trên đời. Nhất là vào cái thời xa xưa ấy, khi đầy rẫy những vần thơ nếu không cổ kính thanh nhã thì lại vang vang tiếng súng nổ, gươm khua, hào khí ngút trời. Đi bộ đội mới hiểu cái kiểu ăn nói bỡn đời, đậm chất lính, nhất là lính Hà thành, đã được đưa tất vào thơ. Và đi cùng những vần thơ đầy chất tráng ca mà vẫn nhuần nhị làm sao.

Đọc Tây Tiến lần đầu, cứ ngỡ đấy là thơ của lứa “xẻ dọc Trường Sơn” chúng tôi. Cũng ngang ngang, tả cảnh cứ như lính buột miệng đùa. Chết thì bảo “bỏ quên đời” hay “về đất.” Dáng người con gái đẹp thì bảo “dáng Kiều… thơm.” Ô hay?! Dáng dấp cũng có mùi ư? Rồi khung cảnh nữa, “ngàn thước lên cao ngàn thước xuống,” có cả “heo hút cồn mây,” cả “súng ngửi trời.” Đúng quá đi mất. Chả rừng núi Trường Sơn là gì? Đọc đến dòng cuối, bỗng giật mình. Trời đất, bài thơ được làm từ cái thủa ối đứa trong chúng tôi còn chưa kịp ra đời. Lại ngậm ngùi, sao người lính cụ Hồ lớp nào cũng khốn khổ thế, mà sao cũng hào hoa đến thế.

Rồi quen một anh bạn lớn tuổi. Bạn vong niên, song đã kịp vào bộ đội từ chống Pháp, lúc như anh bảo, còn thiếu nhi. Khi bàn về người viết Tây Tiến, không nhớ chuyện gì, tự nhiên anh rỉ tai, Quang Dũng chết đói đấy. Thảng thốt. Tôi rất nhậy cảm với từ chết đói. Không phải vì đọc lắm chuyện của Nam Cao với Nguyễn Công Hoan. Mà vì trong lứa chúng tôi, đứa nào chả từng thưởng thức cái đói. Chả từng không ít bận suýt chết vì… đói. Anh bạn cũng cho biết thêm, không ít lần anh từng dúi cho Quang Dũng, khi miếng thịt, khi chút gạo. Mà Quang Dũng chỉ thích gạo. Anh bảo, người thế mà tháng vẫn chỉ 13 kí rưỡi. Làm gì có chuyện no dồn, chỉ có đói góp. Bây giờ có nhẽ chả ai nhớ đến cái tiêu chuẩn gạo của thời bao cấp khốn khó ấy nữa.

Song chả nhẽ một người đáng ngưỡng mộ như thế mà cũng... Không hiểu nổi, sao lại đến nông nỗi ấy. Rồi mới hay, có ông to nào đấy đã chê Quang Dũng “đặc chất tạch tạch sè.” Ông í bảo, thơ Quang Dũng nói về bộ đội thì bôi bác, những là "quân xanh màu lá," những là “bỏ quên đời.” Lại đầy ủy mị, viển vông, trụy lạc. Bị ông phê phán nhất là cái câu “Đêm mơ Hà Nội dáng Kiều thơm.”

Trong rừng Trường Sơn, cho đến nay giữa đại ngàn đôi khi vẫn còn đó những chiếc võng, người chủ đã ngủ quên trên đó suốt từ hồi nảo hồi nào. Và là lính Trường Sơn, đã mấy ai khỏi sốt rét rừng. Dấu vết để lại là gì, nếu không phải là nước da mãi cứ “xanh màu lá.” Đâu nghĩ, những chuyện ấy được tả rõ ngay từ Tây Tiến. Mới thấy Quang Dũng tả lính chân thực thế. Mà đúng giọng lính, cứ tưng tửng như nói chơi, chẳng chút lên gân hay bi lụy. Những ông to ngồi dưới quạt máy hiểu sao được. Song các ông ấy lại nắm quyền sinh quyền sát.

Thế nên Quang Dũng, giống như Phùng Quán, một nhà văn xuất thân từ người lính chân chính, hết được vào hội Nhà văn. Cũng có nghĩa hết được viết văn. Tất nhiên, sẽ không lương, không tem phiếu. Thời ấy nó vậy. Cho đến giờ, vẫn lấy làm lạ, những văn nghệ sĩ xuất thân từ bộ đội thời ấy sao lại được người ta đem xếp vào nhóm Nhân văn giai phẩm, cái nhóm văn nghệ sĩ được coi là chống đảng, phản cách mạng. Cuối cùng mới ngộ ra, Nhân văn giai phẩm là cái mũ lúc đó người ta vẽ ra để chụp bừa lên đầu nhau. Chứ với những con người như Quang Dũng, làm gì có chuyện chống đảng. Chỉ có những kẻ nhân danh đảng, nhân danh cách mạng, nhân danh tổ chức… để tranh công, đổ lỗi, để dày xéo lên đầu lên cổ nhau. Mà những kẻ như thế, thời nào chả có. Ai dại thì thiệt(?!). Nghe nói, ông cậu cấp trung ương từng có lần mắng Phùng Quán, dại lắm cháu ạ(?!).

Cuộc sống thế, không đói mới lạ. Nhất là với Quang Dũng, một người vốn nổi tiếng vì có vóc dáng cao to “như Tây.” Phùng Quán đôi khi còn gửi được bài nhờ bạn đăng, tất nhiên dưới tên người khác, song chủ yếu sống nhờ cá Hồ Tây. Còn Quang Dũng chỉ quanh quẩn bên hồ Thiền Quang, cái hồ bé tí mà lũ trẻ chúng tôi hồi ấy vẫn gọi theo lối xưa là hồ Ha le. Đứng bên này hồ có thể vẫy nhau, thậm chí vắt vẻo gọi vói sang bên kia. Hồ nhỏ thế, liệu kiếm được con gì. Nghe bảo, ông ra đấy để quét lá, giúp vợ có cái cho vào bếp. Vợ ông cũng bảo, bà chưa bao giờ thực sự lo được cho ông một bữa… no.

Tôi là lính 320, trung đoàn 64. Đến khi đọc lại lịch sử mới biết, sư đoàn bao gồm hai trung đoàn quá nổi tiếng. Một là trung đoàn 48 hay đoàn Thăng Long. Đây là đơn vị từng trấn phía tây nam Hà Nội, giữ đường cho quân ta ra vào thành qua cửa ngõ Hà Đông suốt “60 ngày lửa khói” mở đầu cuộc toàn quốc kháng chiến, bắt đầu từ mùa đông năm 1946. Chính nhạc sĩ Nguyễn Đình Thi đã qua cửa ngõ Hà Đông trong những ngày đầu chống Pháp. Và ngay trên mảnh đất Hà Đông ngày đó, ông đã viết bài ca Người Hà Nội hào hùng và bất hủ.

Thứ hai là trung đoàn 52 Tây Tiến. Ban đầu cũng lấy quân từ các lực lượng vệ quốc đoàn và tự vệ thành, phần lớn là dân Hà thành, cả phu phen, thợ thuyền lẫn học sinh, sinh viên và trí thức. Thành danh Tây Tiến vì trong chống Pháp, nó hoạt động suốt một dải phía phía tây đất nước, từ Sầm Nưa cho tới tận đất Lào Cai trên ải Bắc. Người ta bảo, hồi đó Văn Cao cũng là lính trung đoàn, từng được giao bí mật đứng ra lập quán cà phê tại Lào Cai, để làm “tình báo.” Sau mới đư��c điều về lại Việt Bắc, viết Sông Lô. Mấy ai biết, trong tiếng Tày Nùng, sông lô nghĩa là dòng sông xanh. Vì thế, không lạ khi Văn Cao lấy mấy nét nhạc về dòng Đa nuýp xanh bên trời Âu đưa vào bài Sông Lô. Và cũng mấy ai biết Quang Dũng là người của chính trung đoàn 52 này, ngay từ những ngày đầu chống Pháp, với bao nhiêu người trai Hà Nội "bỏ quên đời" trên những nẻo đường Tây Bắc hùng vĩ và gian khó.

Hóa ra, tôi đã vinh dự được đứng chung đội ngũ với bao người nổi tiếng. Doãn Quang Khải – người viết nên bài hát Vì nhân dân quên mình, bài ca truyền thống và cũng là tuyên ngôn của toàn thể những người lính, nói đúng hơn lính cụ Hồ. Và Quang Dũng, người làm ra bài thơ truyền thống cho cả một trung đoàn. Đơn vị duy nhất trong toàn quân được vinh dự mang danh một bài thơ của sư đoàn 320 Đồng Bằng chúng tôi, bài thơ Tây Tiến. Một binh đoàn, mà ngoài thời chống Pháp ra, còn thì hầu như lúc nào cũng chỉ đứng chân trên rừng núi Tây Nguyên, vùng đất nổi tiếng không chỉ nhờ rừng sâu núi thẳm, mà còn vì chuyện lính đói. Sắn, quả gắm, củ mài, măng, bắp chuối, môn thục, rau tàu bay… cái gì cũng có thể va vào miệng.

Thương Quang Dũng. Cảm phục và nhớ thương quá, người lính lớp đàn anh cùng sư đoàn. Trải bao đói khát, bệnh tật, đạn bom và chết chóc. Bước chân ông, theo chân cái trung đoàn cũng thành danh với bài thơ ông, đã dọc ngang khắp đất nước Triệu Voi, dọc ngang khắp núi rừng Tây Nguyên, xuống đến đồng bằng, rồi lại càn lướt lên tận ải Bắc xa xôi. Mãi gần đây mới ngỡ ngàng chợt biết, cũng như bố, như chú tôi, ông là một người lính Hà thành. Một người lính Hà thành hào hoa và dũng cảm. Để lại một áng thơ hào hùng, đầy chất lính, phiêu lãng ngay cả trong gian khổ đến cùng cực, khó có thể nào quên.

Bài thơ có số phận cũng long đong như con người viết nên nó. Lứa các học sinh trên tôi được học. Khi học cấp II, thấy các anh cấp III mang Tây Tiến ra đùa chơi, như các cụ lẩy Kiều xưa, hứng thú lắm. Chỉ mong được chính thức đọc, chính thức nghe thầy giảng, xem nó ra làm sao. Song đến lứa chúng tôi thì bỏ. Bỏ mãi. Trong những ngày đạn bom và sơ tán ấy, chả ai nhắc nhở gì đến bài thơ nữa. Rồi mới đây lại chợt thấy trong sách giáo khoa. Người ta bảo, tùy quan niệm người soạn sách. Có điều, chỉ người lính mới thực sự cảm thụ được Tây Tiến, mới thấy được từ đó cái chất giọng rất riêng, chỉ giữa lính với nhau. Vả chăng, không đọc Tây Tiến thì sao thấy được cái tưng tửng, đùa đùa, vượt trên hiểm nguy, coi khinh sốt rét, đạn bom. Coi khinh cái khổ đến cùng cực, thiếu từ miếng cơm đến hạt muối của người lính thế hệ Hồ Chí Minh. Thế hệ những người đem máu xương giành đất và giữ đất, của ngày hôm nay.

Ôi, Quang Dũng. Lại nhớ câu nói của anh bạn vong niên, nay cũng xa rồi, Quang Dũng chết đói đấy. Chết đói giữa lòng thủ đô. Giữa hòa bình. Và nữa, ông ra đi vào năm 1988, trong những ngày bao cấp khốn khổ cuối cùng, hay ngay trước ngưỡng cái thời được gọi là Đổi mới.



Ý kiến không được cho phép