NGƯỜI VIỄN ĐÔNG

Nơi chia sẻ và lưu giữ các bài viết của Nam Nguyen

ÔNG NGUYỄN XIỂN - THAM LUẬN TẠI KÌ HỌP THỨ 10 QUỐC HỘI KHOÁ VII

QUỐC HỘI TA LỚN LÊN VỚI NỀN DÂN CHỦ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA

(THAM LUẬN TẠI KÌ HỌP THỨ 10 QUỐC HỘI KHOÁ VII)


Thưa, đoàn Chủ tịch!

Thưa các đồng chí đại biểu Quốc hội.


Kỳ họp Quốc hội này của chúng ta diễn ra vào lúc kết thúc năm 1985 tưng bừng những ngày lễ lớn và chỉ còn ít ngày nữa là bước vào năm 1986, năm mở đầu đầy hi vong và hứa hẹn chặng đường mới thực hiện kế hoạch năm năm lần thứ tư xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa.

Xin cho phép tôi, với tư cách là một thành viên lâu năm có mặt ở tất cả các khoá Quốc hội nước ta từ trước đến nay, nhắc lại cuộc Tổng tuyển cử bầu Quốc hội đầu tiên ngày mồng 6 tháng Giêng 1946 của nước Việt Nam độc lập, tự do sau Cách mạng tháng Tám thành công.

Đã 40 năm trôi qua , đất nước đã trải qua bao đổi thay gian nan và kì diệu, cách mạng nước ta, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, đã giành được những thắng lợi to lớn và rực rỡ. Quốc hội, cơ quan quyền lực cao nhất của Nhà nước ta, nơi hội tụ các đại biểu Ưu tú nhất của nhân dân ta, chốn tập trung trí tuệ, kinh nghiệm và nguyện vọng của cả dân tộc ta, đã có một vai trò vẻ vang đóng góp vào sự nghiệp chung. Từ Quốc hội lập nước, Quốc hội kháng chiến và kiến quốc, đến Quốc hội cải tạo xã hội chủ nghĩa và đấu tranh thống nhất nước nhà, từ Quốc hội xây dựng những cơ sở vật chất kĩ thuật đầu tiên cho chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc đến Quốc hội thống nhất đất nước và xây dựng chủ nghĩa xã hội trên cả nước, đó là những chặng đường lịch sử đánh dấu và khẳng định về mặt pháp lí những bước phát triển mạnh mẽ của nhân dân ta, Nhà nước ta chiến thắng oanh liệt trong cách mạng dân tộc, dân chủ nhân dân và kiên quyết đi lên chủ nghĩa xã hội, xu thế tất yếu của thời đại.

40 năm đã trôi qua. Nhưng có thể nói lòng những người đương thời cho đến bây giờ vẫn còn xúc động ghi nhớ mãi hình ảnh ngày hội toàn dân nô nức đi bỏ phiếu lần đầu ở khắp các thôn xóm, thị thành của đất nước, miền núi cũng như miền xuôi, cả ở Nam Bộ đang ngùn ngụt khói lửa kháng chiến chống thực dân Pháp trở lại xâm lược. Toàn dân, không phân biệt giàu nghèo, lương giáo, nam nữ, dân tộc và trình độ học vấn đều có mặt ở hòm phiếu để bỏ phiếu cho Cụ Hồ, cho danh sách do Mặt trận Việt minh đề cử. Chủ tịch Hồ Chí Minh, người công dân số một của đất nước, cũng đã gương mẫu thực hiện nghĩa vụ và quyền công dân của mình. Mỗi lá phiếu bầu lúc bấy giờ có ý nghĩa như một lời thề chiến đấu sẵn sàng hi sinh vì độc lập, tự do, quyết không cam chịu quay lại cuộc đời tôi đòi nô lệ.

Lần thứ nhất trong lịch sử, dân tộc ta có một cuộc bầu phiếu phổ thông rộng rãi và một quốc hội dân chủ như vậy. Do truyền thống kinh tế công xã nông thôn xa xưa và do phải đoàn kết chống ngoại xâm, ngay dưới một số triều đại phong  kiến, xã hội Việt nam đã sớm có được một số yếu tố dân chủ gắn liền với sự hình thành và củng cố dân tộc. Nhưng chỉ với Cách mạng tháng Tám 1945, có tính chất dân tộc, dân chủ và nhân dân sâu sắc, lật đổ ách đế quốc và phong kiến, nhân dân ta mới có cơ sở để đi tới một nền dân chủ thật sự và trọn vẹn. Trước đây dưới triều một đấng minh quân yêu nước, các đại biểu nhân dân được vời vào cung điện nhiều nhất cũng chỉ làm nhiệm vụ tư vấn. Còn các viện dân biểu, hội đồng quản hạt thời thuộc Pháp rõ ràng là những trò hề thực dân xoay quanh mấy ông “nghị gật”, “nghị xôi thịt”. Từ Quốc hội khoá 1 của nước Việt Nam dân chủ cộng hoà, nhân dân ta mới bắt đầu vươn lên làm chủ vận mệnh của mình, của dân tộc.

Có lẽ ít có một nước nào, sau khi làm cách mạng thắng lợi chưa đầy nửa năm, lại dám tiến hành ngay tổng tuyển cử toàn quốc như nước ta ngày mồng 6 tháng Giêng năm 1946. Lúc ấy, chính quyền mới còn non trẻ, nhân dân phần lớn còn mù chữ, đói khổ, trên đất nước còn nhiễu nhương đầy dẫy, thù trong, giặc ngoài. Phải có một lòng tin mãnh liệt không bờ bến vào lực lượng quần chúng nhân dân mới có được chủ trương táo bạo ấy. Đây chính là một bài học lịch sử: Khó khăn như thời đó mà còn phát huy được dân chủ, thì ở bất kì tình thế phức tạp nào khác, chúng ta cũng có thể thực hiện dân chủ. Và dân chủ đã có tác dụng chính trị to lớn hợp pháp hóa và nâng cao uy tín chế độ mới, chính quyền mới. Ta đứng ở địa vị chủ nhân ông mà xử lí các công việc đối nội và đối ngoại, đập tan mọi thủ đoạn vu cáo bịp bợm của kẻ thù trước dư luận thế giới. Cuộc sống đã chứng tỏ dân chủ làm càng ngày càng tốt, dân chủ chính là sức mạnh của cách mạng, của Nhà nước cách mạng. Không những thế, dân chủ còn bảo đảm cho chủ trương, chính sách được xác lập đúng đắn, còn là thước đo sự vững mạnh của một chế độ, trường học trưởng thành về chính trị của nhân dân. 

Tuy nhiên, thực tiễn cũng cho chúng ta thấy dân chủ nghĩa là một sự bình đẳng hoàn toàn về nghĩa vụ và quyền lợi theo như định nghĩa của Ăngghen là một quá trình có điều kiện, có nhiều cấp độ. Không phải cứ có bản chất chế độ tốt đẹp là có ngay dân chủ cao như ý muốn. Lênin đã phân biệt hai trình tự dân chủ trong cách mạng dân chủ (mà thực chất là cách mạng ruộng đất) và trong cách mạng xã hội chủ nghĩa. Như vậy, dân chủ không dừng lại ở cải cách ruộng đất, mà còn tiến triển thành dân chủ xã hội chủ nghĩa. Ngay dân chủ xã hội chủ nghĩa cũng là một quá trình. Chế độ xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô đã được xây dựng qua 68 năm, thế mà, cho đến nay, Liên Xô vẫn đặt ra vấn đề hoàn thiện dân chủ xã hội chủ nghĩa. Dân chủ xã hội chủ nghĩa cũng không dừng lại ở việc bảo đảm tuyển cử chính xác và công bằng những cơ quan dân cử mà chủ yếu là nhằm phát huy vài trò làm chủ tập thể của quần chúng nhân dân trực tiếp tham gia ngày càng đông đảo vào việc quản lí Nhà nước, quản lí kinh tế xã hội, vào việc kiểm tra lao động và tiêu dùng. Nó không chỉ đạt tới mục tiêu xoá bỏ giai cấp, mà còn phải tiến lên quan tâm và quí trọng từng con người, từng thành viên trong xã hội, phát triển toàn diện và hài hoà mỗi cá nhân.

Thời đại của chúng ta đầy những biến động xã hội, cực kì phong phú đa dạng, lại được cuộc cách mạng khoa học, kĩ thuật hiện đại thúc đẩy tiến vọt lên một trình độ văn minh ngày càng cao, cho nên nhu cầu phát triển dân chủ cũng rất lớn, trên phạm vi toàn thế giới. Đây là một trào lưu mạnh mẽ, một xu thế khách quan. Trong thời đại hiện nay, hoàn toàn có khả năng thực hiện sự thống nhất giữa chủ nghĩa xã hội với dân chủ, cũng như giữa chủ nghĩa xã hội với hoà bình trên trái đất, với hạnh phúc của loài người. Tình hình ấy tự nó đã bác bỏ quan niệm của Mao Trạch Đông coi dân chủ chỉ là phương tiện, không phải là mục đích, vì đã là phương tiện thì dễ sử  dụng rộng, hẹp tuỳ tiện theo ý muốn chủ quan. Ở nước ta, Đảng Cộng sản đã đề ra một cơ chế dân chủ đúng đắn: Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lí, Nhân dân lao động làm chủ tập thể. Vấn đề là ở chỗ kết hợp được chặt chẽ, cụ thể ba yếu tố trên thành một lực tổng hợp thúc đẩy mỗi bước phát triển của chủ nghĩa xã hội. Nếu có một khâu nào yếu thì cả ba yếu tố trên đều có thể tác hại đến cơ chế chung. Bản thân cơ chế này cũng là một quá trình phụ thuộc vào nhiều điều kiện, từ trình độ kinh tế xã hội của đất nước, trình độ văn hoá, tư tưởng của nhân dân, đến cách làm việc của các tập thể, năng lực và phẩm chất của con người, nhất là những người đảm đương các trách nhiệm lãnh đạo và quản lí. Quốc hội và Hội đồng nhân dân các cấp là cơ sở chính trị của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, là khâu chủ yếu để thực hiện dân chủ xã hội chủ nghĩa, do đó, phải nêu gương kiểu mẫu về sinh hoạt dân chủ. Quốc hội không chỉ có chức năng thông qua nghị quyết về các vấn đề then chốt trong chính sách đối nội, đối ngoại, thông qua luật pháp, mà còn phải có chức năng tổ chức và kiểm tra việc thực hiện các nghị quyết, hiệu lực của pháp luật, sự hoạt động của các cơ quan trực thuộc. Quốc hội của ta đã là một quốc hội dân chủ vượt lên trên mọi nghị trường tư sản, nhưng chủ nghĩa xã hội ở nước ta càng phát triển sâu rộng thì vai trò của Quốc hội cũng như hội đồng nhân dân các cấp càng phải được tăng cường, hoạt động của nó càng phải biểu hiện đầy đủ hơn các nguyên tắc làm việc xã hội chủ nghĩa. Trong khi Đảng tăng cường lãnh đạo về đường lối chính trị và kinh tế, Nhà nước đi sâu vào tổ chức, quản kí kinh tế, xã hội, thì vẫn còn một phạm vi rộng lớn để Quốc hội phát huy vai trò quan trọng của mình, chủ yếu là trong các lĩnh vực pháp chế, bảo đảm dân chủ, phát huy lực lượng tích cực sáng tạo của quần chúng nhân dân, của mỗi công dân tham gia thực tế, rộng rãi vào đời sống chính trị, kinh tế, xã hội của đất nước.

Chúng ta đã có một bộ luật tổ chức Quốc hội và Hội đồng Nhà nước và một qui chế làm việc của các đại biểu Quốc hội tương đối hoàn chỉnh, nhưng thành thực mà nói, giữa mong muốn và hiện thực vẫn có một khoảng cách cần chú ý.

 

Để kỉ niệm thiết thực lần thứ 40 cuộc Tổng tuyển cử toàn quốc bầu ra Quốc hội đầu tiên, dựa vào những quan điểm vừa trình bày trên đây, và với tư cách là một đại biểu Quốc hội lâu năm, tôi xin đề nghị mấy ý kiến góp phần vào việc nâng cao vai trò của Quốc hội ta trong tình hình hiện nay.

Quốc hội cần có kế hoạch giáo dục rộng rãi cho cán bộ và toàn dân về chuyên chính vô sản, về dân chủ xã hội chủ nghĩa, về chế độ làm chủ tập thể. Phải làm sao cho mọi người hiểu được rằng chuyên chính và dân chủ là hai mặt của một thể thống nhất biện chứng, nguyên tắc của chế độ ta là tập trung dân chủ, nhưng phổi trên cơ sở dân chủ tốt, mới có tập trung tốt, mới chông được tập trung quan liêu và mọi hiện tượng lạm dụng chức quyền. Quan điểm nổi tiếng của Lênin “kỉ luật là thảo luận” và của Chủ tịch Hô Chí Minh nhắc nhở các cán bộ cách mạng của Đảng, của Nhà nước và của Mặt trận Tổ quốc tận tuỵ thực hiện vai trò làm “người lãnh đạo đúng đắn và người đầy tớ trung thành của quần chúng nhân dân” phải đi vào cuộc sống. Như vậy những quyết định quan trọng nhất của Đảng và Nhà nước về kinh tế, xã hội cũng như về các mặt khác có liên quan thiết thân đến đời sống nhân dân cần được đông đảo quần chúng, trước hết là các đại biểu của nhân dân trong Quốc hội, thảo luận và thực hiện. Đặc biệt, cần giáo dục cho cán bộ về ý nghĩa của quyền lực, quyền lực trao cho mỗi cá nhân, mỗi ngành là rất cần thiết trong lãnh  đạo và quản lí, nhưng không phải là cái tuyệt đối, vĩnh viễn, cao nhất trong xã hội chủ nghĩa. So với quyền lực và lợi ích của toàn dân, nó bao giờ cũng là cái thứ yếu. Quốc hội cần xem xét và có thêm sáng kiến, biện pháp, phấn đấu bảo đảm tốt hơn nữa cho các quyền hạn và nghĩa vụ của công dân được tôn trọng và thực hiện. Tôi nghĩ tới một kinh nghiệm sốt dẻo gần đây: Giá mà việc tổ chức thực hiện nghị quyết về giá - lương - tiền, một bản nghị quyết hết sức quan trọng và đúng đắn, được bàn bạc phần nào trong Quốc hội thì nhất định có thể tránh được những bước nóng vội, chủ quan và có thể thấy trước được một số điều bất hợp lí bây giờ lộ ra phải sửa.

Quốc hội cần nêu gương về một phong cách làm việc dân chủ thật sự nghiêm túc: Thảo luận và giải quyết các vấn đề một cách tập thể, tự do và thiết thực, đặc biệt là phải cố gắng đưa ra công khai trước nhân dân mọi vấn đề không cần tuyệt đối giữ bí mật, đề cao tinh thần phê bình và tự phê bình cách mạng, có một chính sách thông tin rộng rãi về các vấn đề lãnh đạo đang giải quyết và quần chúng đang quan tâm. Tôi nhớ lai kì họp Quốc hội cuối năm 1955 đã có một không khí thông cảm nồng nhiệt khi Hồ Chủ tịch báo cáo về sai lầm trong cải cách ruộng đất. Điều đó chứng tỏ việc phê bình và tự phê bình triệt để và công khai chỉ củng cô" và làm tăng thêm uy tín của lãnh đạo. Các công việc kiểm tra, bãi miễn, chất vân, giải quyết các kiến nghị và khiếu tố của nhân dân... trong Nhà nước ta cần trở thành sinh hoạt bình thường và phải được tiến hành một cách không hình thức, không nửa vời. Những đạo luật mà Quốc hội thông qua phải làm sao không chỉ là những văn bản pháp chế thuần tuý, mà còn là những động lực chính trị quan trọng nhằm bảo vệ lợi ích của Nhà nước và quyền công dân, thúc đẩy nâng cao hiệu quả kinh tế, năng suất lao động, trách nhiệm cá nhân, đấu tranh chống các biểu hiện sai trái với chủ nghĩa xã hội. Có như vậy mới dần xoá bỏ được một tình trạng thực tế hiện nay là chúng ta có những nghị quyết, văn bản khá hay, khá đầy đủ mà tác dụng đến cuộc sống chưa được bao nhiêu.

Việc Quốc hội có hoàn thành được chức năng là cơ quan đại biểu của mình hay không, xét đến cùng, là tuỳ thuộc vào hoạt động tích cực của các đại biểu, vào mối liên hệ giữa Quốc hội và quần chúng nhân dân. Dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam và phối hợp hoạt động với các tổ chức khác trong hệ thống chính trị chung xã hội chủ nghĩa, Quốc hội phải tự mình chủ động tìm mọi cách hoàn thành chức năng của mình. Việc các đại biểu Quốc hội thường xuyên tiếp xúc cử tri, năng sử dụng danh nghĩa đại biểu Quốc hội vẻ vang của mình hơn là các chức danh kiêm nhiệm khác về mặt Đảng và chính quyền, có một ý nghĩa to lớn đối với việc nâng cao vai trò Quốc hội.

Quốc hội dân chủ của nước ta ra đời cách đây 40 năm. Giữa một mùa xuân thời tiết chính trị còn khắc nghiệt, lạnh giá, vẫn trồi những búp mầm khoẻ khoắn, tươi xanh. Nay đất nước và nhân dân đã lớn lên. Quốc hội ta ở độ tuổi trưởng thành vững vàng, nhất thiết cũng sẽ lớn lên kịp thời với yêu cầu dân chủ của thời đại, của chế độ xã hội chủ nghĩa.

  (Báo Tổ quốc số 37, 1985)

Trích từ: Nguyễn Xiển - Cuộc sống và sự nghiệp                                                                                                  
                
T

Ý kiến không được cho phép